Xứ Ấn như cố hương

Du Ký

Sống lại ngày Tết xứ Ấn

 

Tôi chọn đúng ngày Tết để trở lại Ấn Độ. Xứ Ấn nhiều lễ tết hội hè, nhưng Diwali là Tết to nhất, Tết năm mới, Tết gắn với sử thi được ưa chuộng bậc nhất. Chàng Rama chiến thắng quỷ Ravana rồi đưa nàng Sita trở lại quê hương. Hành trình về lại cố hương từ miền nam Ấn đi lên miền Bắc. Ngày hai người về đến quê hương được lấy làm ngày Tết. Dân chúng trang hoàng nhà cửa, thắp lên những ngọn đèn đất nung, lung linh như sao sa khắp phố phường xóm làng. Diwali là Tết Đèn.

 

Phải dành ít nhất nửa ngày trời ở khu đền Akshardham (ảnh Internet)

 

Hơn hai chục năm trước, trong ký túc xá sinh viên nước ngoài ở New Delhi, chúng tôi cũng mua hàng chục cái đèn bát bằng đất nung, cỡ bằng một phần ba cái bát ăn cơm, đặt thành dẫy trên bờ tường trên ban công. Cũng lung linh lấp lánh như các nhà trong phố. Đèn sáng như sao ấy là để soi đường cho Rama và Sita trở về, đèn sáng cũng là để soi cho thần Tài Lộc Lakshmi, thần Trí Tuệ và Của Cải Ganesh biết lối mà vào nhà.

 

Tôi rời New Delhi năm 1994. Trước khi trở lại, cứ ngại dịp Tết thì đường phố tắc nghẽn, mấy ngày Tết nhà hàng cửa hiệu đóng cửa. Mấy người bạn Ấn trả lời thư điện tử: đừng lo, mấy ngày đầu năm phố phường sẽ vắng hơn, còn dịp Tết thì hiệu ăn và cửa hàng đều mở cửa, không ai muốn bỏ mất dịp buôn bán đầu năm.

 

Thế là quyết định đi. Thời tiết ở thủ đô đã dịu sau mấy tháng nắng nóng, nhiệt độ trong ngày chỉ dao động từ 20 đến 32 độ C. Đường phố mấy ngày áp Tết rầm rập người và xe. Nhưng từ buổi chiều tương tự chiều ba mươi Tết ở ta, lượng người và xe trên đường giảm hẳn.

 

 

Ngày Tết người Ấn có thói quen đi xem lại vở diễn Ram Lila, kể sự tích Rama và Sita như trong sử thi Ramayana. Ngày trước năm nào tôi cũng đến bãi Ferozshah Kotla để xem vở kịch múa hoành tráng này, do Trung tâm nghệ thuật Shriram biểu diễn. Bây giờ không diễn ở sân bãi mênh mông ngày xưa nữa, sân khấu được dựng lên ngay trên bãi cỏ của văn phòng Trung tâm nghệ thuật, chứa được khoảng dăm trăm người. Sân khấu không hoành tráng như ngày trước, nhưng vẫn còn khá dài và rộng so với một sân khấu thông thường. Trang trí sân khấu có thêm yếu tố video art, nghệ thuật hình ảnh video, cập nhật các kỹ thuật hiện đại. Tất nhiên dàn diễn viên mới hoàn toàn, giọng ca và dàn nhạc nền cũng mới. Đạo diễn vẫn thế, nhưng biên đạo múa có thay đổi ít nhiều. Tôi chờ một vũ đạo đẹp và mạnh khi bốn anh em hoàng tử Rama lần lượt thi bắn cung nhưng không có, người ta đã cải biên và bỏ mất cảnh này. Dù một số chi tiết xưa đã được thay đổi, nhưng xem lại cũng là dịp để sống lại không khí Tết Ấn Độ ngày trước.

 

Tối giao thừa, tôi chọn điểm đến là đền Birla, hai mươi năm trước còn là khu đền lớn bậc nhất ở thủ đô. Bên cạnh đền Hindu này có một chùa Phật nho nhỏ khiêm nhường. Tôi vào chùa Phật trước, gặp một nhà sư người Sri Lanka trong chính điện, được nhà sư buộc chỉ cổ tay chúc phúc. Hơn hai chục năm trước, mỗi lần đến thăm đền Hindu, trước hết tôi vào ngôi chùa Phật ngay bên cạnh, có gì như là cám cảnh, thương cho ngôi chùa Phật hiếm hoi và nhỏ bé nép mình bên cạnh ngôi chùa Hindu đồ sộ. Bây giờ cũng vậy, tôi đi một vòng xung quanh khuôn viên nhỏ của chùa, thấy ở lưng chùa vẫn còn phiến cẩm thạch trắng, khắc ghi rằng chùa được vị cha già dân tộc Mahatma Gandhi khánh thành vào ngày 18-3-1939, tám năm trước khi Ấn Độ độc lập.

 

Bắt chước một kiểu ảnh bình dân: chỉ năm ngón tay mà nhấc cả Taj Mahal lên

 

Rồi đi sang đền Birla, nơi tôi đã tự chọn trước cho đêm giao thừa. Ngôi đền cao khoảng bốn mươi mét bề thế và lộng lẫy. Tôi lưu lại trong đền từ lúc chạng vạng cho đến khi đèn đuốc rực sáng, ngôi đền sáng bừng lên trong đêm. Đền này còn có tên là Lakshmi Narayan, tức là thờ thần Bảo Hộ Vishnu (còn có tên là Narayan) và vợ là nữ thần Tài Lộc Lakshmi. Người Hindu coi Đức Phật là kiếp thứ chín của Vishnu, cho nên trong chùa có cả phù điêu đắp nổi hình Đức Phật. Không như tôi sớm lo, đêm giao thừa trong đền không hề chen chúc. Lượng người đến chùa vừa phải, vẫn còn chỗ cho tôi ngồi ở một khoảng sân yên tĩnh, trên một chiếc ghế băng cẩm thạch màu trắng. Cứ ngồi đấy mà thụ hưởng không khí bình yên thanh tịnh. Khoảng 20 giờ 30 là thời khắc giao thừa của người Ấn, khi ấy khắp xung quanh mới rộ lên tiếng pháo. Chắc giờ này ở bãi Ferozshah Kotla và ở sân bãi của các phường, người ta đang đốt những hình nộm khổng lồ của vua quỷ Ravana. Pháo bông, pháo sáng, pháo thăng thiên tung tóe rợp trời, pháo đùng thì rộn ràng dưới đất.

 

Ngày Tết có mừng tuổi? Có chứ, người Ấn cũng mừng tuổi lì xì cho trẻ con và người già. Không lấy đâu ra mấy đối tượng ấy trong khách sạn nho nhỏ ở trung tâm, tôi mừng tuổi cho anh chàng lái xe và mấy ông phục vụ, cỡ trung niên cả. Ngày Tết mà họ vẫn phải đi làm.

 

Ngày Tết may mắn? Thì tôi là người gặp may, những hai lần. Chuyến bay xuống đất Phật Boddhgaya và bay trở lại Delhi, lần nào cũng bắt được phiếu trúng thưởng trên máy bay của Hàng không Ấn Độ. Được một hộp hai cái đồng hồ đeo tay cỡ to và cỡ nhỏ hiệu Light Swiss của Thụy Sĩ và một cái cặp đựng laptop cũng của Thụy Sĩ. Mấy vật dụng này không phải loại xa xỉ, chỉ cỡ gần 100 USD một chiếc. Nhưng may mắn ngày Tết thì nhỏ to đều quý.

 

Nơi từng sống sáu năm trời

 

Hơn hai mươi năm mới trở lại New Delhi, có lúc cứ rưng rưng như trở lại cố hương, như là mình có lỗi vì đã bỏ xứ đi lâu quá. Nói cho chính xác thì năm 2006 tôi có trở lại Ấn Độ, nhưng chỉ đến Calcutta và đất Phật Boddhgaya. Bây giờ đi qua những đường phố Delhi, nhiều chỗ như xưa, nhưng nhiều chỗ không nhận ra được nữa. Cái thời mình còn là sinh viên, chỉ có thể đi xe buýt, không có tiền để lúc nào cũng đi xe lam, tắc xi lại càng không. Ngày ấy cứ xuống khỏi xe buýt là cuốc bộ, sục sạo dọc ngang khắp thành Delhi, thành ra thuộc đường sá. Bây giờ thì tìm đến phố Copernicus để mua vé xem vở kịch múa về Rama-Sita thôi mà cũng không nhớ phải đi hướng nào. Anh chàng lái tắc xi cũng không rõ, có lẽ vì cái tên phố là ngoại quốc, tên nhà thiên văn học Ba Lan, người phát hiện ra rằng mặt trời mới là trung tâm vũ trụ chứ không phải trái đất. Khi hỏi được đến nơi, anh chàng lái xe cười: Ngày nào tôi cũng qua đây, nhưng không nhớ tên phố.

 

Đền Birla đêm giao thừa Diwali

 

Tôi thì nhớ tên phố nhưng hai mươi năm đã đủ mất phương hướng. Một cuộc thay đổi từ chuyên môn cuốc bộ và đi xe buýt đến bây giờ ngồi tắc xi. Từ sinh viên nghèo, ngày xưa lên trung tâm Connaught Place chỉ để mua sách hoặc xem phim xem kịch, đến bây giờ đã có thể ở trong khách sạn ngay giữa chốn trung tâm ấy.

 

Bạn bè ở Delhi hỏi mấy ngày trở lại thấy có gì thay đổi. Nhiều lắm, Tân Delhi ngày xưa công viên đã như những cánh rừng, Delhi bây giờ còn xanh tươi hơn rậm rạp hơn. Phố cổ Delhi ngày xưa chen chúc hỗn độn, bây giờ có vẻ ít người ăn xin hơn, ít người lằng nhằng đeo bám gạ gẫm mua hàng hơn. Ngày xưa chưa có tàu điện ngầm metro, bây giờ tôi quyết thử một chuyến xem nó ra làm sao. Sáng cuối năm, tôi lên từ bến trung tâm Rajiv Chowk đi đến bến cuối Vaishali. Cố tình chọn ngày mà lượng khách đã giảm, chỉ còn những người về quê muộn, ba lô túi xách lên tàu điện ngầm, để đến bến xe bến tàu rời thủ đô. Gọi là tàu điện ngầm, nhưng cũng giống như ở nhiều đô thị các nước, có những đoạn tàu chạy lên mặt đất rồi lao vút lên phía trên mái nhà phố phường. Các nhà ga đều khá thoáng rộng, sạch sẽ, các biển hiệu có cách dùng từ văn vẻ kiểu Ấn: 99% hành khách nam của chúng ta đã không đi vào khoang ưu tiên cho phụ nữ. Rồi: 99,9% hành khách đã trả lại vé ở bến cuối. Biểu dương tinh thần và kêu gọi người ta hành động đúng đắn mà làm như chỉ đưa ra con số thống kê. Đến bến cuối mất khoảng bốn lăm phút, tôi mua vé tàu để quay trở lại, thế cũng coi là đã biết tàu điện ngầm Delhi.

 

Bằng ấy năm đủ cho nhiều công trình lớn mọc lên. Nhiều binđinh và những chung cư mới. Đền thờ mới nữa. Đến khu đền Akshardham, choáng ngợp trước sự bề thế lộng lẫy, cứ vừa đi vừa thầm tiếc cho bạn bè chưa được đến, cứ tự bảo phải có lúc đưa bạn bè người thân đến đây. Phải đến để thấy cái hoành tráng đồ sộ của một quần thể đền đài. Phải đến để thấy những pho tượng những phù điêu những tranh tường là kiệt tác. Phải đến để ngồi trên những chiếc thuyền gỗ chạm khắc giả cổ, thuyền chạy bằng xích kéo ngầm trên con kênh nhân tạo, để lướt qua những mô hình 10.000 năm lịch sử Ấn Độ. Kiến trúc và điêu khắc phối hợp các phong cách Orissa, Gujarat, Rajasthan và Mughal, cho nên đền mới khánh thành năm 2005, nhưng vẫn thấm đẫm không khí cổ điển. Đó là kiệt tác của 11.000 nghệ nhân và công nhân tình nguyện trong suốt năm năm trời. Nhìn 20.000 pho tượng và phù điêu phong cách cổ, thấy rõ ràng quan niệm về cái đẹp hiện đại đã in dấu trong ấy: các vị thần thánh, các vũ nữ apsara thân hình đã cao hơn, chân đã dài hơn.

 

Hôm đầu tôi chỉ dành được hai tiếng rưỡi tại đền, cứ vội đi cho mau để còn đi thăm nơi khác. Sau đấy mới tiếc. Đúng ra phải có ít nhất bốn tiếng đồng hồ thì mới tạm gọi là bao quát. Thế là hai ngày sau, tôi quyết trở lại đền từ lúc ba giờ chiều đến bảy giờ tối, được bốn tiếng, tham gia toàn bộ các tua tham quan và tĩnh tâm ngắm cảnh. Được nhìn thấy đền lúc nắng chiều và khi đêm xuống đèn đuốc huy hoàng tưng bừng lộng lẫy. Ấy thế, đến lần thứ hai mà suýt nữa bỏ sót khu vườn lịch sử Ấn Độ: đầy một khu vườn quần tượng các nhân vật kiệt xuất Ấn Độ và những phụ nữ Ấn Độ lừng danh. Nhớ ra thì đã tối, phải một mình lần mò vào khu vườn chập choạng huyền bí, đi qua những pho tượng im lìm giữa cây lá.

 

 

Ở giữa quần thể mênh mông mà ưu tư. Lại nhớ khi ở ta có chùa này chùa nọ dựng lên, tuyên bố là chùa lớn nhất Đông Nam Á hay Đông Dương gì đó, có ngay lời bình là kiến trúc lai tạp, không ra Nhật không ra Tàu. Có vị trí thức Phật giáo nói với tôi: Cứ xây thêm chùa kêu là hoành tránh, dân thì đang nghèo đang khổ, làm thế người ta oán tôn giáo.

 

Ấn Độ ngày nay là cường quốc đang nổi lên, tự lực cánh sinh mà làm ra được từ cái kim sợi chỉ cho đến tàu ngầm hạt nhân, tên lửa vũ trụ. Phân hóa giàu nghèo quá xa, giàu thì bậc nhất mà nghèo cũng bậc nhất. Nghèo thế mà đền thờ vẫn mọc lên, như cái quần thể lớn bậc nhất thế giới này. Nghèo thế mà dân chúng vẫn hân hoan đón chào đền mới, vẫn nườm nượp kéo đến thụ hưởng sự bình yên của cõi tâm linh. Chỉ số hạnh phúc HPI khác chỉ số GDP tổng sản phẩm quốc dân là thế chăng?

 

Mọi phán xét vội vàng đều có ngay trong ấy sự phá sản. Tôi chỉ muốn một lần nữa khích lệ bạn bè hãy đến thăm ngôi đền Akshardham này ở New Delhi, hãy dành ra ít nhất nửa ngày ở đấy, bạn có thể thấy một điều lớn lao và an lành khó bao giờ thấy được.

 

Có gì thay đổi? Bây giờ các khu di tích thắng cảnh đều có hàng rào lưới chăng bảo vệ. Biện pháp an toàn an ninh phần nào làm mất cái tự nhiên của đền đài. Ngày trước bãi đất trước Thành Đỏ Red Fort còn để trống, thành quách hùng vĩ có thể thấy từ xa. Trên bãi đất ấy chúng tôi đã xem xiếc trong nhà bạt, ngồi lên vòng đu quay đến chóng mặt. Bây giờ bãi đất đã được rào lại, chắc vì lý do an ninh, xe phải đỗ ở xa rồi từ đấy đi bộ rạc cẳng mới vào đến cổng thành. Ngày trước vào ngôi đền Hồi giáo lớn nhất Ấn Độ Jama Masjid theo lối đối diện Thành Đỏ, ngay bên cạnh đường phố, còn bây giờ phải vào theo cửa hông. Bây giờ xung quanh cái cột sắt cao bảy mét ở quần thể tháp Qutub Minar cũng có hàng rào, không được như ngày trước, chúng tôi còn đứng tựa lưng vào cột sắt để vòng hai tay ra sau ôm lấy cột xem hai bàn tay mình có chạm nhau hay không, tay chạm nhau tức là người may mắn. Bây giờ khoảng sân trên cao xung quanh ngôi đền Taj Mahal cũng có hàng rào, ai lảng vảng đến gần thì bị bảo vệ tinh mắt huýt còi cảnh báo từ xa. Ngày trước tôi từng mon men đến gần mép sân này, nhìn xuống khoảng sân thấp mười mét bên dưới mà chẳng có ai nhắc nhở. Nghe đâu phải làm hàng rào, vì đã có người rơi từ sân cao xuống sân thấp, bằng rơi xuống từ tầng ba một ngôi nhà.

 

Nhắc đến Taj Mahal, tôi dành trọn ngày để đi từ thủ đô đến Agra thăm khu đền vốn là biểu tượng của Ấn Độ. Quần thể cẩm thạch trắng cao 50 mét nổi lên giữa trời xanh. Anh bạn lái xe bảo ở Taj Mahal sẽ có hướng dẫn viên của công ty anh ta, miễn phí. Tôi từ chối vì đây là lần thứ bảy tôi đến thăm Taj Mahal, và không muốn có người kè kè bên cạnh làm mất sự tĩnh tâm. Nhưng rồi đến nơi thì thấy ngay một anh chàng chờ sẵn. Anh ta vừa mới cất lời nói về vị vua xây đền thì tôi bảo đó là hoàng đế Shah Jahan và ngôi đền được hoàn tất vào năm 1653, sau hai mươi hai năm xây dựng. Anh ta nói người ta phải huy động khoảng hai vạn công nhân người Ba Tư để xây đền, tôi sửa lại: Không phải vậy, chỉ có kiến trúc sư trưởng Isa Khan là người Ba Tư, còn công nhân chủ yếu là người Ấn. Thêm nữa, người ta gọi lâu đài này là linh hồn Ấn Độ trong thể xác Ba Tư. Thôi thì anh đã thiện ý đón tôi ở đây thì cứ đi cùng tôi, nhưng không phải giới thiệu, tôi muốn được im lặng chiêm ngưỡng kiệt tác.

 

Đến Taj Mahal lần thứ bảy – vẫn như lần đầu

 

Rồi anh chàng cũng thành công khi cổ vũ tôi đứng cho anh chụp ảnh trước đền. Chụp đúng kiểu tiểu thị dân là đứng lên một cái ghế sa thạch màu hồng, tay giơ ra như tóm lấy cái chóp nhọn trên đỉnh mái vòm. Người ta đua nhau chụp kiểu này, còn mình không thích, nhưng rốt cuộc cũng bị anh chàng hướng dẫn viên kích động mà làm theo.

 

Từ thủ đô đến đây bây giờ đã có đường cao tốc, ngắn hơn nhiều so với quãng đường 200 km ngày trước, xe nhỏ thì chỉ mất ba tiếng, so với ngày trước đi xe buýt mất năm tiếng. Mỗi lần đến là một lần mới lạ, dù Taj Mahal vẫn thế suốt mấy thế kỷ qua.

 

Bạn bè gặp lại

 

Mấy người bạn Ấn mà tôi còn giữ liên lạc, ban đầu đều quen qua anh bạn Tibor người Hungary. Tibor ở cùng ký túc xá, có lần anh rủ tôi đến nhà một người bạn Hung là Johanna lấy chồng Ấn Độ. Ở đấy tôi gặp Ramesh lấy vợ cũng người Hung.

 

Chuyến này Ramesh cứ đòi đi cùng tôi đến Agra thăm Taj Mahal, đòi đi cùng đến đất Phật Boddhgaya. Tôi lờ đi, không muốn vì mình mà Ramesh bị xáo trộn nếp sinh hoạt hàng ngày. Đến Delhi được ba ngày rồi, đi thăm lại những nơi cũ thoải mái rồi, sau đấy tôi mới báo tin cho Ramesh. Ngày thứ mười là ngày cuối cùng tôi mới đến thăm nhà anh, chuyện trò không dứt, xem cùng nhau một bộ phim Ấn, ăn một bữa chiều kéo sang bữa tối, trước khi ra sân bay.

 

Trước đó, ngày nào anh cũng nhắn tin hỏi đi những đâu, thấy gì mới. Giờ ngồi xem phim, anh bảo cái mới kia kìa, bây giờ trong phim Ấn người ta đã hôn nhau. Đúng là như vậy, phim Ấn hai chục năm trước chỉ có nam nữ ôm nhau dắt tay nhau nhảy múa, khi ghé mặt lại gần nhau thì ống kính chuyển sang sông núi mây trời. Bây giờ đã khác.

 

Cha mẹ Ramesh là thương nhân Ấn Độ làm ăn ở Sài Gòn từ những năm 1950. Tuổi thơ của anh gắn với những đường phố, những ngõ hẻm, những hàng cây Sài Gòn. Tuổi thơ của anh gắn với những người bạn Việt. Có khi đám bạn bè đuổi nhau trên những chiếc xe đạp mà lang thang khắp ngõ ngách thành phố. Trong mắt lũ trẻ, thành phố vẫn khá bình yên cho đến khi Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam ở giữa thập kỷ 1960.

 

Năm 1965, cuộc chiến ngày càng nóng lên, cha mẹ đưa Ramesh hồi hương về Bombay, bây giờ là Mumbai. Chú bé mười bốn tuổi bơ vơ giữa thành phố mênh mông hơn mười triệu dân. Một mình trơ trọi và thành phố xa lạ. Ramesh nhớ Sài Gòn, nhớ theo kiểu của nỗi nhớ nhà, nhớ cố hương. Chú gầy rộc đi, chú mất ăn mất ngủ, chú ngẩn ngẩn ngơ ngơ khó hòa nhập. Tình trạng kéo dài suốt mấy năm học phổ thông, chú trở nên gầy tong teo, cho đến khi cha mẹ chú đi đến một quyết định.

 

Tháp Qutub Minar cao 73 mét, gần chân tháp là cột thép 2.000 năm không gỉ (mũi tên chỉ)

 

Cha mẹ đưa Ramesh về thăm lại Sài Gòn, năm chú chàng mười bảy tuổi. Đường phố ngõ ngách đã khác. Bạn bè đã khác. Giống như ai đó đã thổi vào đám bạn bè như thổi cho những quả bóng bay căng phồng lên. Chúng đã có những mối quan tâm khác. Những đứa lớn đã mắt trước mắt sau chui lủi trốn quân dịch, tránh bị bắt đi lính. Ramesh đi dọc sông Sài Gòn, đi qua Chợ Lớn, đi qua những con đường mấy năm trước vẫn đi, lần này lại cảm thấy bơ vơ như giữa một thành phố khác. Không còn là thành phố của tuổi thơ nữa, không còn là đám bạn bè ngày trước nữa.

 

Chuyến thăm lại Sài Gòn giống như một cuộc trị liệu về tâm lý. Cha mẹ Ramesh muốn cho cậu biết rằng Sài Gòn không còn là Sài Gòn của tuổi thơ cậu nữa. Người ta không thể dừng lại để chỉ sống với quá khứ. Khi trở lại Bombay, chàng trai bắt đầu một cuộc hồi sinh, rất tự nhiên đã chịu ăn uống bình thường trở lại và tự bên trong đã chấp nhận một cuộc hòa nhập mới.

 

Tôi gặp Ramesh khi anh đã ở độ trung niên. Năm 1990 múa rối nước Việt Nam có cuộc trình diễn ở một số thành phố lớn của Ấn Độ. Ramesh đến xem chương trình tại bể bơi của khách sạn Ashoka ở thủ đô New Delhi. Sau buổi biểu diễn, anh cùng vợ nán lại ngắm các diễn viên bập bềnh dưới nước thu dọn đạo cụ và con rối. Anh băn khoăn vì sao những con rối bằng gỗ có thể nổi được, vì sao những lá cờ phất từ dưới nước lên mà vẫn khô… Anh bảo trong các tiết mục vừa xem, có lúc anh nghe được chú Tễu nói câu tiếng Việt: Bà coong ơi, mà anh phát âm theo giọng Sài Gòn. Bây giờ ngồi chuyện trò, thỉnh thoảng anh lại nhớ ra một câu tiếng Việt. Khỏe hông? Đói bụng hông? Làm chi mà hổng nói cho tui biết zậy?

 

Có lần tôi dẫn nhóm bạn bè Việt Nam đang học ở New Delhi gồm ba người ở Viện Triết học là Hoàng Thơ, Văn Thị Thu Hà, Trần Tuấn Phong đến chơi nhà Ramesh. Thêm nghệ sĩ Thu Vân của Bình Thuận nữa, Vân mang trang phục đến hóa trang rồi múa Chàm cho vợ chồng Ramesh xem. Hoàng Thơ và mấy bạn nữ mang thực phẩm Việt Nam đến làm nem rán. Một không khí Việt Nam được phục dựng trong nhà Ramesh hôm ấy.  

 

Anh bây giờ vẫn mở một trung tâm bán sách tiếng Pháp, sách Pháp ở một đất nước nói tiếng Anh, lại còn có thêm người cạnh tranh, chắc vẫn đều đều chầm chậm thế thôi. Cha mẹ anh đã mất, tôi nhớ đã gặp hai ông bà ở Delhi. Khoảng năm 1991 ông bà có trở lại Sài Gòn, kể chuyện đổi tiền, thấy một đô la được những mấy nghìn, thích quá, sau đó mới biết đã bị lừa vì tỉ giá còn cao hơn thế.

 

Chị vợ anh là Agnes, làm thủ thư cho thư viện ở Trung tâm văn hóa Hungary, sắp sửa về hưu. Cùng làm ở đấy là chị Johanna. Ngày trước tôi hay đến trung tâm này để xem phim xem biểu diễn nghệ thuật. Bây giờ tôi đến thăm trung tâm để nhớ lại cảnh xưa. Rồi đến thăm lại nhà chị. Cô bé Anu tôi gặp lần đầu mới lên năm, bây giờ đã hai mươi chín, sang học ở Hung rồi lấy chồng người Hung, đưa nhau sang Ireland sống. Chỉ còn lại ở đây chị và anh Suresh như vợ chồng son. Tôi giải thích người Việt gọi những cặp vợ chồng già con cái đi hết giống như vợ chồng son, tức là còn son rỗi và còn trẻ. Hai người cười hiền lành cải chính, son rỗi thôi chứ không trẻ nữa. Suresh là kỹ sư hóa chất, đã về hưu, mấy năm đầu làm thêm cho một công ty, nhưng sáu năm nay anh đi dạy miễn phí cho một trường từ thiện. Anh toàn tâm toàn ý vào đấy: sáng chuẩn bị giáo án để chiều đi dạy hai tiết. Trong bài giảng, anh còn soạn một nội dung mới, chỉ khoảng nửa trang đầu, rồi giao cho học sinh viết tiếp phần sau, như vậy là khiến chúng phải động não cùng thầy. Là chuyên gia hóa học, anh cũng biết về chuyện các loại thuốc bảo quản thực phẩm thấm đẫm trong hoa quả thực phẩm của anh bạn láng giềng, láng giềng của cả Ấn Độ và Việt Nam. May cho xứ Ấn, hoa quả thực phẩm ở Delhi không nhập từ bạn láng giềng.

 

Tôi nhắc lại chuyện ngày trước, có lần anh hỏi Việt Nam là xứ nhiệt đới, thời tiết cũng nắng nóng, vậy người Việt có lười biếng hay không? Anh phân tích hẳn hoi rằng người Ấn lười là vì khí hậu nóng. Bây giờ tôi nhắc lại chuyện cũ, anh cười và bảo đã biết rồi, người Việt cần cù chăm chỉ. Anh đọc sách biết như vậy, biết chuyện xưa là họ đào địa đạo để chiến đấu chống Mỹ, biết chuyện nay là người Việt chăm chỉ giỏi giang, một ông hàng xóm hay đi Việt Nam đã kể với anh như vậy.

Du ký của Hồ Anh Thái