Thảm Ba Tư, chợ Ba Tư trên Con đường Tơ lụa

Du Ký

Nhà văn Hồ Anh Thái

 

Chợ Ba Tư ở thành Tabriz

 

Hầu như những ai từng nghe bản nhạc Phiên chợ Ba Tư (In a Persian Market) của nhạc sĩ người Anh Ketelbey đều hình dung ra một khung cảnh thoáng rộng, những đoàn xe chở hàng, những đoàn lạc đà rung lục lạc - một phiên chợ ngoài trời.

 

Thực tế thì chợ Ba Tư điển hình thường là những khu chợ xây kiên cố, đồ sộ, kiến trúc mái vòm đặc trưng. Tòa nhà có khi trải dài hơn mười cây số, nhiều ngõ ngách cho các phường buôn khác nhau: phường bán thảm, phường vàng bạc, phường mỹ nghệ, phường hương liệu dược liệu, phường đồ da, giày dép… Lối đi trong chợ đủ rộng cho cả đoàn xe đoàn kiệu rước cô công chúa Ba Tư vào chợ, như trong bản nhạc của Ketelbey. Trên khắp đất nước Iran hiện nay có hàng chục cái chợ mái vòm. Hầu như thành phố nào cũng có một cái bazaar như vậy.

 

Chúng tôi đang đứng giữa cái chợ vòm lớn nhất xứ Ba Tư, cái bazaar ở thành phố Tabriz.

 

Một mê cung. Diện tích toàn bộ hơn bảy km². Trong mê cung này các ngõ ngách chia ra hai mươi hai khu chợ cho những phường buôn khác nhau. Tuổi đời của khu chợ được tính cùng Con đường Tơ lụa, mà con đường ấy có từ hơn một trăm năm trước Công nguyên. Thời đó, những đoàn xe chở hàng, những đoàn lạc đà nô nức đến và đi từ Trung Hoa, vào đến xứ Ba Tư thì không thể không dừng chân ở khu chợ. Xe dừng lại, lạc đà buộc lại, lái buôn nghỉ lại, ăn ngủ trong những khu nhà trọ. Đoàn đi buôn đường dài gọi là caravan thì khu nhà trọ này là caravanserai. Vừa là nhà trọ vừa là kho chứa hàng. Chợ Tabriz có hai mươi tư nhà trọ chứa hàng như vậy. Trên Con đường Tơ lụa, cứ một chặng khoảng ba mươi cây số, người ta lại gặp một khu nhà nghỉ caravanserai. Chợ đặc biệt nổi tiếng vào thế kỷ XIII khi thành phố Tabriz trở thành kinh đô của vương quốc Safavid. Tháng 7/2010, chợ được UNESCO ghi danh là di sản thế giới.

 

Chợ Tabriz, khu chợ mái vòm lớn nhất xứ Ba Tư xưa

 

Con đường Tơ lụa vào đến Ba Tư đã gần khép lại tuyến đường dài hơn tám nghìn cây số, nối liền đến tận Trung Hoa và châu Âu. Thuở ban đầu, lụa là mặt hàng còn quý hơn vàng, thậm chí người La Mã còn gửi cả những nhóm gián điệp sang phương Đông để ăn cắp trứng tằm, đó là lực lượng tình báo công nghiệp sớm bậc nhất của nhân loại. Con đường Tơ lụa không phải là đường cái, mà chỉ đơn giản là mạng lưới những lối đi cho xe thồ và lạc đà, xuyên qua những dãy núi cao bậc nhất và những sa mạc khắc nghiệt cũng bậc nhất. Ba Tư là điểm trung chuyển, mặt hàng gửi về phía Đông gồm vàng bạc, ngà voi, đá quý, len dạ, pha lê màu của vùng Địa Trung Hải, hương liệu, rượu và nho… và chuyển sang phía Tây những mặt hàng như lụa, đồ sứ, đá quý, gia vị, nước hoa… Đoàn buôn dừng chân trong những khu chợ Ba Tư, đổi ngựa và lạc đà, nạp thêm năng lượng để tiếp tục hành trình dằng dặc.   

 

Con đường Tơ lụa chấm dứt hoạt động ở thế kỷ XV, khi người châu Âu phát hiện ra tuyến đường biển thuận tiện hơn. Nhưng lúc ấy con đường cũng đã hoàn thành sứ mệnh của nó, không chỉ là thương mại mà còn trong lĩnh vực tư tưởng. Cũng trên tuyến đường này, các tôn giáo đã cùng tồn tại và truyền bá qua lại, đặc biệt phổ biến một tinh thần khoan dung và chấp nhận sự đa dạng. Những tôn giáo Ba Tư như Hỏa giáo (Zoroastrianism), Minh giáo (còn gọi là Mani giáo, Manichaeism) đã có dịp được giao thoa với Phật giáo, Công giáo, Do Thái giáo, Shaman giáo, Khổng giáo…  

 

Ngày nay trong khu bazaar có nhiều phường buôn và cánh thương nhân trong chợ là một thế lực tài phiệt có ảnh hưởng bậc nhất vào đời sống kinh tế thương mại, vào xã hội, thậm chí vào chính trị. Những cuộc bầu cử hội đồng thành phố, bầu cử quốc hội, người ta phải quan sát sự ủng hộ của thế lực này, thường được gọi là giới bazaari (giới làm ăn ở chợ).

 

Đã bước chân vào chợ thì không thể không đến phường bán thảm. Ta đang ở xứ Ba Tư mà.

 

Một khu nhà nghỉ và chứa hàng caravanserai trong chợ Ba Tư

 

Uống trà, xem tranh thảm Ba Tư

 

Ở Iran ngày nay, thu nhập nhờ xuất khẩu thảm chỉ đứng thứ hai, sau xuất khẩu dầu khí. Sở hữu một tấm thảm Ba Tư là mơ ước của nhiều người trên thế giới này. Người dân Iran thì coi tấm thảm là thứ không thể thiếu trong các lễ hội tôn giáo và văn hóa, như một niềm hãnh diện về mức độ sang trọng của gia đình, có thể tự hào phô trương với khách. Tấm thảm quý là nguồn đầu tư tài sản: thảm từ bốn mươi tuổi trở lên thì giá của nó cũng tăng từ 10% đến 20%. Lưu giữ những tấm thảm trong nhà có phần giống như lưu giữ tranh quý của các bậc danh họa.

 

Nhưng thảm không phải là thứ lưu giữ bằng cách cất đi. Đó là vật dụng hàng ngày trải trên sàn nhà, treo trang trí trên tường, là vật êm mịn ta đặt chân lên hoặc nằm nghỉ trên đấy.

 

Thảm Ba Tư có nhiều trường phái trên khắp đất nước Iran. Thảm ở Tabriz là trường phái nổi bật từ thời Con đường Tơ lụa. Tabriz là thủ phủ tỉnh Azerbaijan, vùng đông bắc của đất nước, tiếp giáp với nước Cộng hòa Azerbaijan của Liên Xô cũ. Người dân tộc Azari ở đây đã hòa nhập vào cộng đồng chung của Iran từ lâu, nhưng có cùng chủng tộc và ngôn ngữ với người bên Azerbaijan. Đại giáo chủ Khamenei, người thế lực nhất nước cộng hòa Hồi giáo Iran hiện nay, là người Azari.

 

Một phiên chợ mua bán thảm

 

Không thể đi hết hai mươi hai khu chợ trong cái chợ vòm này. Chỉ riêng khu chợ Mozzafarieh bán thảm thôi cũng khiến ta chồn chân mỏi gối một ngày trời. Hàng nghìn hàng vạn bức tranh thảm, tưng bừng rực rỡ về màu sắc, đa dạng về kích thước, phóng túng mà tinh tế về đường nét, phong phú về đề tài. Một triển lãm tranh thảm hào phóng bậc nhất mà ta hiếm thấy trên thế giới này. Thoạt nhìn, người ta khó tin ngay được rằng đó là thảm. Tưởng đâu là tranh vẽ. Phải đến gần, có thể hơi thô thiển một tí mà sờ tay vào hiện vật, cảm thấy lớp nhung tuyết rất dày rất mịn trên bề mặt bức tranh. Đúng là thảm thật rồi. Thảm đấy, mà là tranh. Tranh thảm. Cảnh đàn ca hát xướng trong cung đình xưa. Phong cảnh núi rừng hùng vĩ. Cảnh sinh hoạt bình dân trong làng xóm Ba Tư, cảnh đi săn, cảnh cưỡi ngựa đánh gôn – môn polo trên ngựa vốn phát tích từ chính xứ Ba Tư này...

 

Tôi dừng lại lâu lâu trước bức tranh thảm vẽ cảnh ăn chơi ở xứ Ba Tư ngày trước. Các tài tử giai nhân, rượu tuôn như suối, miệng ngâm nga xuất khẩu thành thơ. Đây là xứ sở của thơ ca, các thi nhân như Saadi và Omar Khayyam vẫn tụng ca rượu và giai nhân trong thơ mình. Nói thêm: nước Cộng hòa Hồi giáo hôm nay cấm rượu, ai muốn uống thì chỉ có loại bia đã rút mất cồn (non-alcoholic beer) nhập từ nước ngoài. Vậy cái văn hóa rượu đổ chan hòa trong bức tranh thảm chỉ là sự phản ảnh hiện thực cổ xưa như một luyến nhớ. Cũng vì phản ảnh hiện thực, một giai nhân được thể hiện cổ áo trễ nải xuống dưới bầu ngực. Nhưng cũng vì hiện tại phụ nữ đang phải che phủ áo choàng từ đầu đến chân, ông chủ cửa hàng phải lấy một miếng giấy trắng ghim vào chỗ ngực của giai nhân, che đi cảnh nhạy cảm. Tất nhiên ai mua tranh về trưng bày trong nhà thì có thể gỡ miếng che này ra. Ai sẽ là người mua nhỉ? Tôi vẩn vơ như vậy, khi nhìn đến giá tiền: 18.000 đô la Mỹ. Kích thước bằng chiếc chiếu đôi. Trọng lượng bức tranh thảm khoảng hơn 20 kg. Giá tiền ấy là ở Tabriz, về đến khu chợ ở thủ đô Tehran, chắc phải đắt hơn vài ba nghìn đô la.

 

Bức tranh thảm bày bán với giá 18.000 USD

 

Thảm Ba Tư được hoàn thiện trong một lịch sử 2500 năm. Ở thế kỷ XVI và XVII, nghề thảm được các hoàng đế bảo trợ, những người thiết kế và dệt thảm được hưởng nhiều đặc ân. Len dệt thảm làm từ lông cừu hảo hạng. Màu sắc được lấy từ màu nguyên thủy của các loại thảo mộc rau quả, lý do khiến nhiều tấm thảm trải qua hàng trăm năm vẫn không phai màu. Mỗi tấm thảm có khoảng bảy chục màu khác nhau. Một tấm thảm Ba Tư loại thông thường phải dệt khoảng năm mươi mũi trên 1cm². Loại thảm cao cấp trên năm mươi mũi. Còn với những bức tranh tinh xảo thì có thể lên đến gần năm trăm mũi trên 1cm².

 

Trong Bảo tàng Azarbayjan (theo phiên âm địa phương) ở Tabriz trưng bày tấm thảm dệt lại, mô phỏng tấm thảm Chelsea hiện bày tại Bảo tàng Victoria & Albert ở London. Gọi là thảm Chelsea vì tấm thảm gốc này được đem ra bán trên phố King’s Road ở vùng Chelsea khoảng nửa thế kỷ trước. Đây được coi là một trong những tấm thảm đẹp nhất cổ kim đông tây. Tôi loay hoay tìm góc độ để chụp toàn bộ tấm thảm, cuối cùng ra khỏi bảo tàng mới giở ra xem lại thì ảnh hỏng. Không có duyên. May mà còn được một tấm ảnh chụp cận, chi tiết.

 

Những hiệu bán tranh thảm trong chợ Ba Tư

 

Ở vùng Kashan miền trung Iran hàng năm vào khoảng tháng mười có Lễ Giặt thảm. Lễ này nhắc nhớ sự hy sinh của vị vua Sultan Ali Ibn Mohammad, con trai của đại giáo chủ thứ năm. Sultan là người đưa giáo phái Shia (ngày nay là giáo phái chủ yếu ở Iran) đến cho tín đồ ở vùng Fin. Ông bị một số thế lực quan lại ở đây chống đối. Họ xây dựng lực lượng rồi tổ chức tấn công. Mười ngày đầu, lực lượng của Sultan đẩy lùi được quân giặc. Kẻ thù của ông phải tìm cách khác. Ra chiến trường, họ xua mấy chục cô gái khỏa thân đi trước hàng quân tấn công vào lực lượng mộ đạo của Sultan. Nhà vua đành phải để cho tướng lĩnh của mình trải thảm cầu nguyện xuống đất rồi ngồi đọc kinh. Những chiến binh sùng đạo bị tàn sát ngay trong khi đang ngồi cầu nguyện. Kết cục, trên chiến trường ngổn ngang, một số tín đồ Shia đặt xác Sultan lên một tấm thảm, lau rửa theo tập tục rồi mai táng. Họ cũng không quên giặt tấm thảm đẫm máu. Ngày nay, trong Lễ Giặt thảm, hàng nghìn tín đồ rước một tấm thảm tượng trưng, đánh vào đó để tỏ lòng căm thù giặc, sau đó họ đem tấm thảm ra suối để giặt.

 

Lạc đường trong chợ Ba Tư là chuyện bình thường. Thật khó tìm ra đường để quay lại cái cửa mà ta đã vào. Vào một cửa phải ra cửa khác, có khi cách xa hàng cây số. Với khu chợ như thế này, người ta có hai cách: hoặc là đưa chân đi bất cứ đâu, chấp nhận sẽ ra bằng một cửa rất xa điểm đến. Hoặc là hãy làm quen với một người bán thảm. Người này thường lảng vảng ở một lối vào, bắt quen với ta, rồi sẵn sàng hướng dẫn ta đi xem chợ. Gặp một người như vậy, chúng tôi được anh ta dẫn đi trong mê cung, xem khu chợ của phường vàng bạc. Sao lại là phường vàng bạc? Vì khu vàng bạc thường rất đẹp khi lên ảnh. Khu chợ đồ thảo mộc hương liệu dược liệu cũng thuộc diện ăn ảnh như vậy.

 

 

Xong việc chơi chợ và chụp ảnh mới là lúc theo anh chàng bán thảm đến với chợ thảm tranh và thảm trải sàn. Được chuyện trò, được nghe kể về lịch sử nghề dệt thảm, những truyền thuyết về thảm. Chuyện trò, không nhất thiết là ta cứ phải mua thảm, mà còn được mời uống trà. Trà trong chợ thảm cũng là một nét Ba Tư. Trà đen, không pha đường sữa và hương thảo mộc như trà ở Ấn Độ. Trà đen đang nóng, chiêu một ngụm sau khi ngậm một viên đường vuông vắn, cũng có khi là một cục đường không vuông vắn, chặt ra từ những tảng đường to. Ngậm một viên rồi mới uống một ngụm trà. Cái lý của người Ba Tư: như vậy trà vừa đậm đà, và sau khi uống, trong miệng không có vị chua do đường để lại.

 

Cốc trà nóng như thế đã kết thúc một ngày khám phá chợ Ba Tư và thảm Ba Tư.

 

Hồ Anh Thái