Năm lá quốc thư

Tiểu Thuyết

Năm lá quốc thư là cuốn tiểu thuyết được NXB Trẻ ấn hành năm 2019. Ở lời nói đầu, nhà văn Hồ Anh Thái viết: “Tôi vào năm thứ nhất Đại học Ngoại giao Hà Nội năm 1978, đồng thời cầm bút viết truyện ngắn đầu tay. Ngay từ buổi đầu viết văn, tôi đã tâm niệm sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về các nhà ngoại giao. Bốn mươi năm qua, ý tưởng ấy cứ ở mãi trong đầu, cho đến bây giờ mới viết ra được. Thực ra trong đôi ba truyện ngắn và dăm bảy chương tiểu thuyết trước đây, tôi từng nhắc đến nghề đối ngoại, nhưng đây mới thực là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về nghề ngoại giao và người ngoại giao trong cuộc sống đương đại”.

 

Năm lá quốc thư là hình ảnh ẩn dụ về năm vị đại sứ thuộc các thế hệ khác nhau. Mỗi người mang theo một lá quốc thư lên đường đến một đất nước xa xôi, một sự ủy nhiệm của đất nước mình mà không phải ai cũng đã hành động xứng với niềm tin của đất nước. Trong bối cảnh bất ổn ở những đất nước vùng Tây Á, Trung Á và Nam Á, tác giả phục dựng cuộc sống nhiều màu vẻ và đầy ắp sự kiện của các thế hệ ngoại giao Việt Nam. Tình bạn, tình yêu, sự thật và dối trá, sự cảm thông chia sẻ tầm nhân loại, những thách thức cùng vô vàn nỗ lực được ghi nhận. Chân dung những nhà ngoại giao thời hiện đại được thể hiện vừa trang trọng mực thước vừa hài hước sống động.

 

Đấy là chuyện các cơ quan ngoại giao không ngờ.

 

Các sứ quán đang tìm những tuyến đường để sơ tán khỏi thủ đô Sinkistan. Bỗng nhiên một dòng người tỵ nạn từ biên giới với Malastan đổ ập về thủ đô. Không phải Sinkistan phải lo về sự hỗn loạn mà bây giờ lại là Malastan. Bên ấy đang yên đang lành, Mỹ đem quân vào một cái là tan nát hết. Ngay lập tức lực lượng ly khai nổi lên, chia đất nước thành ba miền. Miền Bắc do một dân tộc chiếm giữ. Miền Tây Nam do lực lượng tự xưng là Nhà nước Thánh chiến chiếm. Chính phủ trung ương Malastan chỉ còn giữ được miền Đông Nam, giáp biên giới với Sinkistan. Bây giờ thì Nhà nước Thánh chiến đang tiến gần đến thủ đô. Quân đội Malastan mất tinh thần, bỏ vũ khí chạy tán loạn. Lực lượng hỗ trợ của Mỹ thì quá mỏng, lại không quen chiến đấu trong địa hình hiểm trở.

 

Dân phải bỏ chạy. Bỏ hết nhà cửa ruộng vườn gia súc mà chạy. Người đang làm công nhân bỏ chạy. Chạy hết về biên giới với Sinkistan. Bên Sinkistan phải mở cửa biên giới để đón nhận. Thành lập những trại tỵ nạn ở ngay bên này đường biên. Vải dù được dựng lên thành hàng nghìn cái nhà tròn của dân du mục. Chưa phải là mùa đông, những trại vải dù còn đủ che mưa che nắng.

 

 

Anh đã lường được tình huống này từ trước, khi tin tức chiến sự bên Malastan truyền sang. Chứng nghiệm cho lời nói của ông giáo sư Thổ Nhĩ Kỳ về lực lượng khủng bố đang mạnh lên. Anh làm việc với sứ quán Malastan ở Sinkistan, đề nghị chính phủ bên ấy khi có biến thì hỗ trợ công nhân Việt Nam chạy đến biên giới. Làm việc với chính quyền Sinkistan, đề nghị mở cửa biên giới cho công nhân Việt Nam nhập cảnh. Đại sứ Philippines cho biết ông cũng sẽ phải sơ tán người lao động Philippines ở Malastan sang Sinkistan, trong trường hợp gặp công nhân Việt Nam ở cùng địa điểm, ông sẽ hỗ trợ đưa đi luôn.

 

Anh đã đi khảo sát tuyến đường. Từ thủ đô xuống thành phố miền Tây Nam Sinkistan 415 km. Đi thêm 62 km nữa mới đến biên giới. Kế hoạch được vạch ra: sẽ đưa người Việt Nam đi đường bộ từ biên giới về thủ đô. Số lượng người có thể ước tính được là gần hai trăm. Từ thủ đô sẽ thông tin về Hà Nội để chọn phương tiện đưa người về nước. Chỉ có một cách là về nước bằng đường hàng không. Vấn đề là làm sao mua được vé máy bay cho hai trăm con người. Lúc này các hãng hàng không đều quá tải. Rất nhiều nước cũng muốn gửi công dân của họ về nước bằng máy bay.

 

Anh bước vào phòng Đại Sứ khi ông đang chuẩn bị cái ba lô.

- Cậu ở nhà giữ liên lạc nhé – Ông bảo – Tôi sẽ đi.

Anh vội xua tay:

- Không, không, để cháu đi. Chú là tổng tư lệnh trên chiến trường, chú phải bao quát toàn bộ mặt trận.

Trao đổi qua lại một lúc, ông mới chịu công nhận Anh đi là hợp lẽ.

 

Hai ông lãnh đạo cơ quan thì thế. Bà Tham Tán thì đang âu sầu sống nốt những ngày cuối nhiệm kỳ, lại đàn bà, không ai muốn để bà ta đi vào vùng chiến sự. Ông Tham Tán thì nhiều tuổi, phản ứng chậm. Gọi đến Quản Trị thì anh ta ấp úng xin không phải đi. Bọn thánh chiến nó đang đánh đến, chẳng phải đầu cũng phải tai. Anh này chỉ có điều đến vùng nào có rượu và thịt lợn thì mới sẵn sàng. Nhưng công việc đi bảo hộ công dân là việc lớn của sứ quán, không thể chống lệnh được. Cuối cùng một nhóm công tác đặc biệt được thành lập. Ngoài Anh, còn bắt thêm Quản Trị, Lãnh Sự, Lái Xe.

 

Bên cạnh bãi đất đã ổn định của những túp lều tỵ nạn, chính quyền địa phương mở thêm một bãi đất rộng, có hàng rào dây thép gai bao bọc. Bãi này dành cho những người vừa mới qua biên giới. Người chạy loạn xếp hàng lần lượt đến trước đồn cửa khẩu và xuất trình hộ chiếu. Người của hàng chục quốc tịch.

 

Đã tính trước tình huống này, Anh mua và mang theo một cái loa pin cầm tay. A lô a lô, các anh chị em người Việt Nam, đề nghị tập hợp về bên phải. Chúng ta sẽ làm thủ tục cùng một lúc cho thuận tiện.

 

Trong cái nhốn nháo của hàng nghìn người, mấy trăm người Việt răm rắp tập hợp về một góc sân. Anh lại nói vào loa tay. A lô a lô, đề nghị anh chị em nào không có hộ chiếu đứng sang bên trái tôi, đây, phía này.

 

Một số người chạy sang đứng riêng thành một hàng. Anh bảo Quản Trị, Lãnh Sự, Lái Xe đi dọc hàng người để thẩm vấn họ. Nói tiếng Việt, vậy là được xác nhận là công dân Việt Nam. Trong lúc nước sôi lửa bỏng này thì chỉ có cách đơn giản vậy thôi. Vì sao không có hộ chiếu? Lúc ra khỏi nhà em nhớ là có, nhưng lúc trên xe tải, em kiểm tra lại thì không thấy đâu nữa.

 

Cũng đã lường được tình huống này. Anh đã chuẩn bị sẵn phương án cho những người bị mất hộ chiếu. Lúc này là mười tám người. Họ được tập hợp thành một hàng riêng, được sứ quán cấp cho mỗi người một cái giấy thông hành đã có đóng dấu sẵn, chỉ việc khai và ký tên vào. Rồi họ được dẫn đến đồn biên phòng để bạn đóng dấu nhập cảnh. Những trường hợp này được sứ quán đứng ra bảo đảm.

 

Với những người có hộ chiếu thì đơn giản hơn. Họ được xếp hàng chờ đến lượt để đóng dấu nhập cảnh. Phía bên kia biên giới, dòng người và xe vẫn dồn đến, hàng người xếp dài mãi, xa ngút tầm mắt. Chốc chốc lại có tiếng đạn pháo nổ xa xa. Tin đồn lan trong biển người. Bọn Thánh chiến đang tiến về phía này rồi. Chúng nó gần chiếm được thủ đô rồi. Cũng may là trong cơn hoảng sợ, người ta chưa đến mức hoảng loạn giẫm đạp lên nhau.

 

Bốn người của sứ quán ta đếm lại số người chạy tỵ nạn. Đi dọc hàng người mà đếm. Tất cả có mười một hàng. Đang đếm thì có một toán người vừa chạy đến vừa hét to:

 

- Chúng tôi là người Việt Nam đây.

 

Họ đã nhận ra lá cờ đỏ sao vàng trước mấy hàng người. Thực ra không phải là cờ. Đấy là cái áo phông đỏ in hình ngôi sao vàng trước ngực. Một anh công nhân nào đó có sáng kiến, anh treo nó vào một cái mắc áo, rồi lấy một cái gậy giương nó lên cao.

 

Rầm rập chạy đến mười mấy người. Một người đội mũ đeo kính râm vừa chạy đến vừa gọi, anh, anh.

 

Cô chạy đến và bỏ kính râm ra. Ô. Nàng. Không thể ngờ.

 

- Bên khu chế xuất của em có ba mươi hai công nhân Việt Nam, em đã đưa họ đến đây. Anh giúp đưa họ về thủ đô nhé.

 

- Tất nhiên rồi. Nhiệm vụ của sứ quán mà.

 

Tiếng súng nổ xa xa. Nàng gấp gáp nắm lấy tay Anh:

 

- Thôi, em còn mấy trăm công nhân ở ngoài kia, đủ các quốc tịch. Nếu không có sứ quán nào kịp nhận thì em phải đưa họ về thủ đô.

 

Anh giữ tay Nàng một lúc. Bây giờ chẳng thể nói được gì. Chỉ có thể nhìn vào mắt nhau. Ngày ấy ở Malastan anh đã nghĩ họ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Còn bây giờ lại gặp nhau giữa lúc súng đạn thế này.

 

- Thôi, em đi đi, mọi sự an lành nhé.

 

Anh chỉ biết nói thế. Rồi buông tay Nàng ra.

 

Nàng tất tả chạy đi ngay. Cho đến khi hòa lẫn vào biển người trước mặt.

 

Ở nơi bom đạn có khi lại là điểm hẹn do ông trời sắp đặt. Nàng vừa hòa lẫn vào dòng người thì Anh nhìn thấy Roza. Cô cầm một lá cờ màu xanh da trời, có hình hai cành ô liu khuôn tròn một chữ gì đó ở giữa. Chắc là biểu tượng của công ty cô. Kéo theo cô là một đoàn người cũng cả trăm công nhân.

 

- Roza, Roza, mọi sự tốt lành nhé – Anh đưa tay vẫy cô và gọi.

 

Cô đưa một bàn tay khum trước miệng thành loa mà gọi lại:

 

- Bên em có mười sáu công nhân Việt Nam, họ đây, Anh nhận giúp em đi.

 

Trời ơi, những người phụ nữ này. Chiến tranh đang đến gần mà họ còn phải lĩnh trách nhiệm bảo đảm an toàn cho hàng trăm con người.

 

- Hẹn gặp anh ở thủ đô nhé – Roza vừa vẫy Anh vừa chạy đi. Anh không kịp hỏi sẽ gặp bằng cách nào. Anh không có địa chỉ và số điện thoại của cô ở bên lãnh thổ Sinkistan này.

 

Những công nhân Việt Nam ở bên đoàn của Roza nhanh chóng đến nhập vào hàng người bên này. Tổng số là hai trăm năm mươi tám người. Trong đó, hai mươi mốt người không có hộ chiếu đã được cấp giấy thông hành.

 

Đến chiều tối mọi người mới làm xong thủ tục và lên xe. Hai trăm năm mươi tám người lên bảy chiếc xe chở khách. Tất cả bảy lái xe đã được cho địa chỉ của đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Sinkistan. Anh ngồi trên chiếc xe cuối đi ra khỏi bãi đỗ xe. Nhìn trở lại bãi đỗ, Anh lại thấy Nàng đang đứng trên thùng một chiếc xe tải chở rất nhiều người. Nhận ra Nàng nhờ chiếc khăn trùm đầu đã rơi xuống và một mái tóc dài tung bay. Chỉ mái tóc dài Việt Nam mới không trùm khăn và tung bay kiểu như thế. Bên kia biên giới, những chớp lửa vẫn bùng lên trong một cuộc giao tranh. Phía bên này, đi ngược chiều với họ là những đoàn xe tăng đang được gửi đến tăng cường cho biên giới. Xích sắt nghiến roàm roạp trên đường. Trong ánh đèn pha của xe tăng và các loại xe quân sự, gương mặt Nàng đỏ hồng và sáng bừng lên cho đến khi xa dần.

 

*

*   *

 

Sứ quán đã biến thành trại tỵ nạn. Việc trước hết là thuê một tiểu đội bảo vệ có vũ trang đến trực suốt hai mươi tư tiếng trước cổng. Việc thứ hai, toàn bộ vườn trước và sân sau được biến thành chỗ nghỉ cho hơn hai trăm con người. Mua những tấm gỗ dán về trải kín trên mặt bãi cỏ và sân sau, làm chỗ nằm cho anh em công nhân. Phía trên bãi cỏ và sân, Anh đã bảo Quản Trị mua vải dù chăng thành mái che mưa che nắng. May mùa này không có mưa. Vải dù che như kiểu nhà có đám cưới. Thế là toàn bộ bãi cỏ và sân đã lát đầy gỗ dán, nằm ngồi đều được. Mỗi người đủ một chỗ nằm, như xếp cá, không nằm thì ngồi bó gối, mong chờ sớm được về quê hương.

 

Ngay cả ga ra đằng sau nhà cũng thành chỗ ở cho công nhân. Mấy chiếc ô tô được đưa ra hết trước cổng, đỗ qua đêm bên lề đường. Ở đấy đã có bảo vệ canh giữ.

 

Đưa hai trăm năm mươi tám con người vào một cái nhà nghỉ nào đó? Không khả thi. Quỹ bảo hộ công dân chưa duyệt, không có tiền để chi. Công điện và điện mật tới tấp gửi về nhà để xin ý kiến về kinh phí. Tạm để người trong sứ quán như vậy đã. Bằng ấy con người mà tầng một chỉ có hai cái toa lét. Phải thuê của công ty vệ sinh thêm bốn cái toa lét di động. Sáng ra trước các toa lét là hàng người dài. Đại sứ phải bảo các nhà tầng trên mở cửa cho anh chị em lên dùng nhờ toa lét. Lãnh Sự phản đối, lấy lý do an ninh bảo mật. Đại Sứ phải bảo, tài liệu đã ở hết trong văn phòng, đấy là nơi người ngoài không được xâm nhập. Còn lúc này việc hỗ trợ anh em công nhân phải được coi là việc quan trọng của sứ quán. Đến thế các phòng mới chịu mở ra cho công nhân vào nhờ.

 

Nấu nướng ngày hai bữa cho bằng ấy con người? Cũng không khả thi. Chẳng nồi niêu xoong chảo nào đủ cho một lượng thực phẩm lớn như thế. Ấy là chưa kể phải đánh mấy chuyến xe mới đủ mua thực phẩm. Đại Sứ cũng đã có sẵn phương án rồi. Đặt một quán ăn ở gần sứ quán. Mỗi bữa họ đánh xe chở đến bằng ấy suất cơm. Ăn cũng tạm. Mỗi hộp cơm có một miếng sườn cừu nướng và vài thứ dưa góp chua chua kiểu Trung Á.

 

Bù đầu lên về những vấn đề phải trao đổi với nhà: kinh phí ở đâu để mua vé máy bay cho công nhân bay sang Dubai hoặc Bangkok, từ đó bay tiếp về Hà Nội. Tiền không chuyển sang được vì ngân hàng không kết nối với hệ thống ngân hàng quốc tế. Cũng có thể phải theo phương án đi từng tốp, mỗi tốp vài ba chục người, và theo những hãng hàng không khác nhau. Gửi điện. Gửi điện. Gửi điện. Mỗi ngày mấy cái điện đánh về và điện gửi sang. Thượng khẩn. Nhà đang họp liên ngành để tìm biện pháp sớm nhất.

 

Đang rối ruột lên thì nghe xôn xao ở phía nhà ăn. Nhà ăn chỉ đủ chỗ cho cơ quan, ngồi được hơn hai chục người. Bây giờ người ra người vào tấp nập. Bà vợ Quản Trị cùng với Cấp Dưỡng đã liên doanh mở một quán bán mì gói. Bà này ngay ngày đầu tiên công nhân đến đã tru tréo lên. Khoảnh đất trên bãi cỏ mà lâu nay bà chiếm dụng cuốc xới trồng rau muống, bây giờ đã bị những tấm gỗ dán đè lên. Thế là hết cả rau với cỏ. Bãi cỏ của sứ quán, vốn trồng một loại cỏ Mỹ tươi mơn mởn và đều tăm tắp. Vừa mới sang đến sứ quán, Vợ Quản Trị đã le te chạy ra cuốc xới một góc. Cấp Dưỡng thấy thế cũng ra chiếm thêm một góc bên cạnh trồng rau cải. Người Việt nào trong máu cũng có tính nhà quê. Ông bà nào tiểu thương thì cũng mới thoát được đồng ruộng nhiều lắm là ba đời. Vườn hoa vườn cỏ mịn màng đẹp đẽ ở sứ quán nào cũng bị cuốc xới, lại còn chia cắt cát cứ mỗi người một mảnh. Có hôm Anh ra cổng đón khách, dẫn được ông phó sứ Singapore đi vào thì đi qua khoảnh vườn của Vợ Quản Trị, mùi khai xộc lên. Bà ta không vừa ý với việc tưới nước và bây giờ bổ sung vào danh mục cả nước tiểu. Hai vợ chồng bà cùng hai đứa con phải đái vào cái xô trong toa lét để ngày ngày bà mang đi tưới. Có nước tiểu rau mới tươi xanh và đậm đà. Dẹp ngay. Đã làm ngơ cho việc cuốc xới bãi cỏ cơ quan lên, giờ lại được đà lấn tới. Không còn cái thể diện nào của cơ quan đại diện.

 

Cũng hôm qua, sau khi tru tréo về việc vườn rau đã bị những tấm gỗ dán đè bẹp, bà ta lại to tiếng một trận nữa. Cái góc thờ thổ công thổ địa của bà đã bị hàng trăm người qua lại đá phải. Ông thổ địa văng ra gẫy cả đầu. Đi lại thì phải có ý có tứ chứ, đá cả vào chỗ thờ của người ta, rồi gặp xui gặp rủi thì đừng có trách. Lại nguyền rủa đe dọa. Lâu nay bà cũng biến mấy chỗ trong sứ quán thành điện thờ. Thờ thổ công thổ địa. Thờ tam tòa thánh mẫu. Thờ Phật. Đang đi thỉnh thoảng lại giật mình gặp một góc thờ lập lòe cây hương. Loang loáng mấy cây lộc, lá vàng lá bạc. Nó không ra thờ cúng mà giống mê tín dị đoan hơn. Đại Sứ cũng phải ra tay. Cô đưa các loại bàn thờ vào trong phòng riêng, Phật tại gia, Phật tại tâm, người khác họ cũng thờ trong phòng riêng của họ cả đấy.

 

Lúc này Vợ Quản Trị đang cùng Cấp Dưỡng xăng xái bên nồi nước sôi to tướng. Mì gói Việt Nam bà mang sang mấy thùng, bây giờ phát huy tác dụng. Xé gói mì ra, bỏ vào bát ô tô, rắc vào đấy một ít hành mùi thái nhỏ, rồi chan nước sôi. Bán. Tranh thủ bán cho anh chị em công nhân. Người Việt mà phải ăn đồ ăn nước ngoài một ngày thì có hai cái nhớ: một là nhớ cơm, hai là nhớ mì ăn liền. Thì bây giờ nỗi nhớ đã thỏa. Vợ Quản Trị quá hiểu nhu cầu của người Việt. Lòng vả cũng như lòng sung.

 

Chị ta đang hí hửng bán mì ăn liền thì Đại Sứ bước vào:

 

- Cô bán bao nhiêu một bát mì?

 

- Dạ, ba đô anh ạ. Gói mì mang được sang đây, cước vận chuyển của hàng không tính ra là bằng ấy. Coi như em không lấy tiền công, em phục vụ anh chị em thôi.

 

Đại Sứ cười:

 

- Đắt quá. Một suất cơm sườn cừu bình dân tôi mua cho anh em chỉ có hai đô thôi. Vậy cô bán cho tôi bát mì hai đô nhé. Tôi mua toàn bộ chỗ mì ăn liền này và chiêu đãi anh em luôn bây giờ. Còn từ nay trở đi không bán chác gì nữa. Việc gì cũng phải hỏi ý kiến lãnh đạo cơ quan, không nên tự tiện làm.

 

Anh em được một bữa sáng mì ăn liền. Mà Đại Sứ đã nói thế thì Vợ Quản Trị và Cấp Dưỡng cũng phải cắn răng làm vui. Dẹp luôn chuyện nấu nướng bán chác trong sứ quán.

 

Từ chuyện bữa mì ăn liền, Đại Sứ ra tiếp cái lệnh mới. Từ bữa này trở đi, tất cả cán bộ nhân viên sứ quán sẽ cùng ăn bữa trưa và bữa tối cùng anh chị em công nhân. Quán ăn mang đến món gì mình ăn món ấy. Anh chị em công nhân ăn gì thì sứ quán ăn món nấy. Đến bữa ăn ông gọi vợ xuống ăn cùng. Anh cũng gọi vợ con và các gia đình trong sứ quán xuống ăn cùng. Không nên tạo ra sự khác biệt. Người ta phải để vợ chồng con cái ở nhà để đến một nơi xa xôi, lao động kiếm đồng tiền công cũng là cách để trả nợ một phần cho đất nước. Bán mồ hôi và sức lao động. Đại Sứ thường nói thế. Ông cũng cho rằng những người lính tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc không chỉ bán mồ hôi mà có khi cả xương máu. Nhiệm vụ thì vinh quang, còn được nâng lên tầm nghĩa vụ quốc tế, nhưng cũng là ghé vai gánh thêm món nợ cho đất nước mà thôi. Cánh công nhân này thì bây giờ phải chạy loạn, của nả phải vứt bỏ lại, cố lắm chạy được lấy người về nương náu ở đây. Phải làm sao cho những ngày trú ẩn của họ bớt lo sợ và được thoải mái nhất trong điều kiện có thể.

 

Ăn được mấy bữa cơm của quán ăn Trung Đông, Lãnh Sự kêu chán.

 

- Không được nói điều ấy đến tai anh chị em đâu – Đại Sứ chấn chỉnh ngay – Anh muốn ăn món tự nấu thì để khi nào anh chị em về nước anh sẽ được thoải mái. Còn bây giờ, thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ ngoại giao là đây. Mình kêu chán còn anh chị em thì sao?

 

Thực tế là cánh công nhân phải hết nằm lại ngồi bó gối trong sân trong vườn sứ quán mất chín ngày. Chín ngày dài như một năm trời. Hồi hộp lo lắng không biết bao giờ mới được về, có kịp chạy trước khi giặc đến hay không, và về bằng phương tiện nào. Cuối cùng các cuộc họp liên ngành do thủ tướng chủ trì đã ra được quyết định. Một chiếc máy bay của hàng không Việt Nam sẽ bay thẳng sang để đưa công nhân về nước. Sứ Quán lập tức phải đi làm thủ tục xin phép cho máy bay ta vào không phận của bạn. Gì chứ với các bạn Việt Nam thì chính phủ Sinkistan luôn tạo điều kiện dễ dàng. Tiểu đội vũ trang được thuê đến tăng cường bảo vệ sứ quán trong chín ngày, cuối cùng chính phủ không lấy tiền. Những thủ tục xuất cảnh cho hơn hai trăm con người cũng được làm trong thời gian ngắn nhất.

 

Trích tiểu thuyết của Hồ Anh Thái