Một thành phố, hai ngọn núi lửa

Du Ký

Muốn xem hai ngọn núi lửa trong một ngày thì phải đi từ sớm. Hai ngọn núi lửa ấy ở gần Bandung, thành phố cách thủ đô Jakarta 150 cây số. Chúng tôi rời thủ đô Jakarta lúc năm giờ sáng, cuối ngày trở về đến nhà đã là mười một giờ đêm.

 

Trong một cửa hàng tranh trên phố Braga

 

Bandung đã quá nổi tiếng. Hội nghị Bandung năm 1955 sáng lập ra phong trào Không Liên Kết, từ ấy xuất hiện khái niệm thế giới thứ ba, để chỉ những nước không đứng về bên nào khi mà thời chiến tranh lạnh có hai cực, đứng đầu là Liên Xô và Mỹ. Chữ hội nghị Bandung đã trở thành biểu tượng của một thời.

 

Xe trườn đi giữa dòng xe cộ đông đặc từ cửa ngõ Bandung vào đến phố phường bên trong. Thấp thoáng qua cửa xe những kiến trúc thuộc địa Hà Lan, những kiến trúc truyền thống theo kiểu nhà sàn, những phố núi nhấp nhô cao thấp, những ruộng bậc thang vằn vện dưới kia, những rừng rậm nhiệt đới chen lẫn um tùm xanh ngắt.

 

Dạo chơi trên mặt hồ Kawah Putih

 

Con thuyền lật ngược

 

Từ Bandung đi lên phía bắc thành phố thêm ba mươi cây số mới đến núi lửa Tangkuban Prahu. Ở chân núi, phải đổi từ xe to sang những chiếc xe van chuyên chạy đường núi thì mới leo được lên dốc để tới đỉnh ngọn núi cao 2084 mét. Những triền thông rậm rạp thoạt nhìn có vẻ giống Đà Lạt, nhưng nhìn kỹ thì thông ở đây cao vút và thân gầy hơn, thậm chí trông như những anh chàng cao kều khẳng khiu. Chiếc xe nhỏ cứ thế chạy vùn vụt lên núi, xuyên qua những rừng cây thâm u dẫn lối vào huyền thoại.

 

Đường xuống lòng hồ núi lửa Kawah Putih

 

Chuyện xưa kể rằng thuở ấy ở miền tây Java có nàng Dayang Sumbi sắc nước hương trời, chỉ vì đứa con trai không nghe lời mà bị nàng đuổi đi. Một thời gian sau đó nàng được thần linh ban cho phép lạ trẻ mãi không già. Nhiều năm tháng qua đi, người con trai là Sangkuriang trở lại cố hương, không nhận ra thiếu nữ xinh đẹp kia là mẹ mình. Họ yêu nhau. Nhưng một lần người mẹ bất chợt nhận ra cái bớt trên người con trai khi anh ta chuẩn bị đi săn. Để hủy bỏ cuộc hôn nhân đã định, nàng Dayang Sumbi ra điều kiện cho chàng Sangkuriang trước lúc bình minh, chàng phải xây xong một đập nước trên sông Citarum và đóng một con thuyền to để vượt sông. Chàng kêu gọi sự giúp đỡ của thần linh và những người khổng lồ xanh đã đến giúp. Đêm dài sắp qua, công việc xem ra sắp hoàn thành, nàng Dayang Sumbi bèn đối phó bằng cách ra lệnh cho gia nhân trải những tấm lụa đỏ rực bên phía đông thành phố, gây ấn tượng như mặt trời đang mọc. Chàng Sangkurian tưởng trời đã sáng, ôm đầu kêu trời, dừng ngay mọi việc lại. Khi nhận ra đã bị lừa, chàng bèn đạp đổ cái đập nước và chiếc thuyền. Đập nước vỡ gây ra lũ lụt trong vùng và con thuyền lật úp bây giờ là ngọn núi lửa Tangkuban Prahu.

 

Mua dâu tây tự hái dưới chân núi lửa

 

Prahu có nghĩa là chiếc thuyền lật úp. Chúng tôi bây giờ đang đứng bên miệng núi lửa mà nhìn xuống. Thông thường những ngọn núi lửa đã ngủ yên hàng vạn năm thì miệng núi là một cái hồ nước tự nhiên. Nhưng Prahu chưa hề ngủ yên, hơn bốn vạn năm qua nó đã phun trào hơn ba mươi lần, lần tương đối xa xưa là năm 1826, lần gần đây là 1983, 2013. Mới nhất là đầu năm 2015, chính quyền địa phương còn báo động và sơ tán dân quanh vùng. Nhưng núi lửa đã dịu xuống và bây giờ du khách đã được phép lên ngắm núi.

 

Miệng núi lửa là cả một cái lòng chảo sâu xuống bên dưới. Không biến thành hồ chứa nước mà hoàn toàn khô khốc. Đá trơ màu vôi và màu lưu huỳnh. Những ngọn khói hầm hập đang tỏa trong miệng núi lửa dưới kia. Gợn nghĩ, biết đâu bây giờ cái con thuyền úp ngược này bỗng lật mình trở lại mà phun trào. Cả đám du khách và hàng quán chợ búa kia chỉ còn là đàn kiến bèo bọt giữa hỏa diệm sơn mênh mông. Nhưng rồi không khí bình yên và mát lạnh cao nguyên chỉ tăng thêm hào hứng nhìn ngắm, chụp ảnh, mua sắm và khám phá.

 

Hồ nước đổi màu

 

Không khô khốc tỏa khói đe dọa như Prahu, hồ nước Kawah Putih lại trong xanh mơ màng. Khi chúng tôi đến, cái hồ là miệng núi lửa này có màu ngọc lục bảo, trong khi người ta kể rằng hồ nước đổi màu tùy theo ngày, tùy theo độ đậm đặc của lưu huỳnh, và tùy theo nhiệt độ tăng giảm trong lòng hồ. Có lúc nó còn đổi sang màu ngọc bích hoặc màu nâu.

 

Bên miệng núi lửa Tangkuban Prahu 

Ngựa chờ khách bên núi lửa Prahu

 

Một màn sương bay lãng đãng trên mặt hồ, không phải sương mà là khói đấy. Như vậy làn nước xanh mờ kia đang là nước nóng tỏa khói. Người không chịu được mùi lưu huỳnh đều đã mua khẩu trang để đeo, đến lúc tạo dáng chụp ảnh mới tháo khẩu trang ra. Ngọn núi lửa này đã ổn định từ năm 1600 và đến năm 1987 bắt đầu cho phép du khách đến thăm thú.

 

Lần đầu tiên Kawah Putih được nhà thực vật học người Đức Franz Wilhelm Junghuhn phát hiện ra là năm 1837. Ông nghe đồn rằng cái đỉnh núi ấy rất lạ lùng bí ẩn, chim chóc không dám bay qua đấy, muông thú cũng không lảng vảng. Ông len lỏi tìm đường trèo lên độ cao 2430 mét, thấy miệng núi lửa đã biến thành hồ nước. Cũng dễ hiểu, muông thú vắng bóng vì nồng độ lưu huỳnh hóa thành sương mù như thế. Sau đó dưới thời thực dân Hà Lan, nơi đây có một cái mỏ khai thác lưu huỳnh, dấu tích vẫn còn: những đường hầm vào lò ở gần hồ nước. Thành phố Bandung nổi tiếng thế, Indonesia nổi tiếng là xứ sở núi lửa thế, nhưng hai ngọn núi lửa này vẫn còn ít được biết đến. Chính quyền đang muốn quảng bá để hàng năm có nhiều hơn 300.000 du khách như hiện nay.

 

Quán vịt – ngồi ăn xem cá lội

 

Cũng giống như bên núi lửa Prahu, ở bên này, đến cửa rừng du khách sẽ phải đổi sang xe van chuyên dụng để chạy mười lăm phút trong rừng rậm mà lên núi. Cách thành phố năm mươi cây số về phía nam, vùng cư dân Ciwidey quanh núi lửa nổi tiếng với hoa trái, đặc biệt là dâu tây và khoai lang. Khoai lang ruột rất mềm và ngọt lịm. Dâu tây thì có đến một nửa nhân khẩu gieo trồng. Người ta không trồng trên mặt đất mà trồng trong từng bao đất hình trụ thẳng đứng, xếp lớp lớp đều đặn cạnh nhau. Trong hai ngọn núi lửa, chúng tôi chọn Kawah Putih để đến sau vì tiện cho lúc trời gần tối có thể xuống núi chạy vào những vườn dâu tây. Mỗi người được phát một cái hộp xốp mà vào vườn tự hái, hái xong thì mang ra cân và trả tiền.

 

Bức tranh nhỏ cánh đồng Nam Dương có núi lửa đằng xa

 

Ẩm thực vùng hồ núi lửa có nét quyến rũ rất riêng. Bữa trưa muộn lúc hai giờ chiều vào quán vịt Bebek Unti, ngồi trên những cái nhà sàn thả chân xuống cho cá vàng cá bạc sùng sục đến rỉa chân, hoặc trèo lên ngọn đồi sau quán ngắm vườn dâu tây vườn cà chua, hoặc lang thang qua những căn nhà sàn bằng gỗ, bày đầy những pho tượng gỗ phong cách dân gian. Cá nướng đưa ra, vịt nướng đưa ra, tẩm ướp rất đậm, hơi mặn và hơi thơm nồng, nhưng như thế mới ra ẩm thực dưới chân những ngọn núi lửa.

 

Pháo hoa Bandung lúc giao thừa

 

Chọn đúng ngày cuối năm để trở lại Bandung và là lần đầu tiên vào thăm thành phố. Sáng đầu năm, điểm đến đầu tiên là bảo tàng Hội nghị Bandung. Năm 1955, nguyên thủ quốc gia của các nước như Ấn Độ, Indonesia, Ai Cập có sáng kiến thành lập một tổ chức của những nước không ngả theo cực Liên Xô hay là Mỹ. Họ gọi đấy là phong trào Không Liên Kết của các nước thế giới thứ ba. Trong bảo tàng bây giờ còn lưu giữ hiện vật và ảnh nhiều nhân vật trong hội nghị lịch sử như thủ tướng Ấn Độ Nehru, tổng thống Indonesia Sukarno, tổng thống Ai Cập Nasser, chủ tịch Hồ Chí Minh…

 

Ngày đầu năm, người đi nườm nượp trên phố Asia Afrika. Hai bên đường phố hội nghị cứ cách một quãng, người ta đặt một quả cầu bằng đá khắc tên từng nước thành viên Không Liên Kết. Đi qua hàng chục quả cầu như thế mới tìm thấy quả cầu khắc tên Việt Nam. Lá cờ nhỏ bằng kim loại trên quả cầu đã rơi mất, rồi sẽ phải thông báo cho ban quản lý bảo tàng để họ khôi phục.

 

Trước bảo tàng Hội nghị Bandung

 

Đường phố này vẫn bề thế những tòa nhà từ thời thuộc địa Hà Lan, giống như phố Jenderal Sudirman ở gần đấy. Phong vị phố Tây cứ thế mà phảng phất trong khắp không gian.

 

Không khí châu Âu cũng còn vương trong khu Đại học Giáo dục. Tòa biệt thự Villa Isolda do một ông trùm truyền thông Hà Lan xây vào những năm 1930, bây giờ thành văn phòng giáo vụ của trường. Ấy thế, vào trường hỏi sinh viên, không biết. Chắc là đã đến thời sinh viên không nhớ gì lịch sử nữa, cả ở bạn lẫn ở ta. Hỏi nhiều người lảng vảng trong trường, thì lại chỉ cho một khu resort mới xây cũng tên là Isolda. Cuối cùng, một nhân viên khu nghỉ dưỡng nhiệt tình đánh xe dẫn đường để cho xe chúng tôi bám theo, tìm được tới tòa nhà được coi là một kiệt tác kiến trúc.

 

Còn một nơi lưu giữ không khí thuộc địa nữa, học viện Kỹ thuật Bandung BIT. Đây là trường đại học đầu tiên được mở ra cho người bản xứ Indonesia vào năm 1920. Thời sinh viên, Sukarno (vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Indonesia) đã theo học ở đây. Sinh viên trường có truyền thống tham gia những phong trào chính trị. Năm 1998, hàng ngày có đến 100.000 sinh viên tham gia biểu tình, một phong trào dẫn đến sự sụp đổ của tổng thống độc tài Suharto. Khoa mỹ thuật của trường nổi tiếng trong làng mỹ thuật quốc tế và trong trường có một phòng trưng bày mỹ thuật rất ấn tượng.  

 

Chiều cuối năm, chúng tôi lang thang trên phố Braga. Các họa sĩ đường phố bày tranh la liệt dọc theo phố, những bức sơn dầu phong cảnh và đời sống. Chỉ là tranh chép thôi, giá rất rẻ, từ bức sơn dầu 25 x 30 cm chỉ có 70.000 đồng tiền Việt, cho đến những bức tranh 1,2 x 1,6m giá khoảng 3,2 triệu. Tôi mua hai bức nhỏ nhất và hai bức 50 x 70 cm để ủng hộ họa sĩ, cũng là để tăng cảm giác đi chợ tranh ngày cuối năm cho chính mình. Phong cách đặc trưng tranh phong cảnh xứ Nam Dương: đồng lúa được vẽ tỉ mỉ đến từng cây lúa, bụi tre chi tiết đến từng chiếc lá, và phía xa bao giờ cũng có ngọn núi lửa làm nền.

 

Cứ thế mà đi qua các họa sĩ vẽ chân dung tại chỗ cho du khách, qua các hiệu bán tranh, các cửa hàng đồ mỹ nghệ lưu niệm, các cửa hàng thời trang, nhiều nhất là quán cà phê đầy đủ phong cách Âu Á. Phố cổ lát gạch từ thời Hà Lan, kiểu phố dành cho đi bộ, nhưng xe cộ cứ tuôn chảy bất tận. Mưa lắc rắc đủ ướt đầu và ướt đường, dòng nam thanh nữ tú Tây Tàu vẫn cứ đi.

 

Lúc giao thừa, chúng tôi lên tầng mười của khách sạn Pasar Baru Square để xem pháo hoa. Khách sạn phục vụ miễn phí cho khách trọ bữa ăn đêm, có món hủ tiếu Thái và một số đồ ăn nhẹ kiểu Indonesia. Bia Bintang lạnh thì phải trả tiền. Du khách đổ đến bên bức tường kính ba phía hội trường để chụp ảnh. Không phải là pháo hoa của nhà nước như ở ta, cũng không phải theo chủ trương nhà nước và nhân dân cùng làm, ở đây chỉ có pháo hoa tư nhân. Mạnh nhà nào nhà ấy bắn. Ấy thế mà lại vui mắt. Bầu trời đêm thành một cái chợ hoa muôn hồng nghìn tía, đa dạng đa sắc, lại có yếu tố dân chủ vì thị hiếu nào cũng được chấp nhận. Ở gần khách sạn, hai ngọn tháp cao vút của ngôi đền Hồi giáo Masjid Raya như cũng bừng sáng hơn nhờ những chùm pháo hoa rực rỡ trong đêm giao thừa.

 

Bài du ký đúng ra đã kết thúc ở đây. Nhưng ấn tượng về Bandung sẽ không trọn vẹn nếu bỏ qua vài sự việc. Đấy là ngay trong đêm giao thừa, chỉ sau khi chúng tôi đứng trên tầng thượng khách sạn xem pháo hoa, một quả bom tự tạo đã nổ ở gần nhà riêng ông thị trưởng Ridwan Kamil lúc một giờ hai mươi phút. Giữa thành phố gần ba triệu dân, một tiếng bom nổ chìm lẫn trong tiếng pháo hoa, phải vài ba ngày sau mọi người mới biết qua báo chí. Quả bom được cài dưới một chiếc xe của đài truyền hình đi tác nghiệp. Không có thương vong, nhưng cảnh sát coi đấy là sự hư hại về uy tín, bởi chỉ riêng cảnh sát quốc gia đã huy động 80.200 nhân viên duy trì an ninh trật tự, chưa kể cảnh sát các tỉnh thành. Nhắc chuyện này không phải để làm nhụt chí người đi du lịch, mà để một lần nữa nhớ rằng khủng bố đã trở thành một vấn đề toàn cầu, ngay cả giữa một xứ sở mà người dân hiền lành chân thật.

 

Một chuyện nữa là nạn tắc đường. Cửa ngõ ra vào Bandung cũng tắc đường như Jakarta, không thể khẳng định được là ngày thường sẽ bớt tắc hơn ngày lễ. Chúng tôi từng chứng kiến một vụ tắc đường, mất mười hai tiếng đồng hồ mới đi được 150 km từ Jakarta đến Bandung. Lần này chỉ đi 7 km từ trung tâm thành phố Bandung đến Villa Isolda mà cũng mất vài tiếng. Đoàn xe nối nhau dài dằng dặc trên đường. Đến mức phải từ bỏ ý định đi tiếp đến thăm chợ nổi Bandung. Đây là chuyện đau đầu của các đô thị Indonesia và việc giải quyết cũng còn chậm. Nói chuyện này cũng là để mọi người nên tìm đến những phương tiện khác như tàu hỏa, đi xa hơn nữa thì dùng máy bay. Còn thành phố Bandung một thời được gọi là Paris của xứ Java thì luôn xứng là một điểm tham quan không thể bỏ qua.

Hồ Anh Thái