Đọc sách tháng 11-2020

Tiểu Luận

2666

 

Đọc xong 2666 như vừa đi qua thế giới này, qua cả những thế giới ở bên ngoài thế giới này. Có một hiện thực nào đó còn lớn hơn cái hiện thực mà cuốn sách bao trùm, mở rộng chiều kích và tầm nhìn cho bất cứ ai đã đắm mình vào đấy. Người đọc bị hút vào gần 900 trang sách khổ lớn, ngập chìm trong đó, có khi bị lôi đi, có khi cảm thấy bức bối ngột ngạt, nhưng khi đi trọn được cuốn sách thì có cảm giác viên mãn. Như thể đã được sống qua và trải nghiệm thật sâu nhiều cuộc đời cùng một lúc.

 

 

Câu chuyện số 1 về bốn nhà nghiên cứu văn học và câu chuyện số 5 về nhà văn Đức hành tung bí ẩn là đường dây xuyên suốt, cuối cùng hai câu chuyện này đã nối lại trọn vẹn tất cả những gì tưởng như không liên quan ở ba câu chuyện kia. Mở đầu một cách hấp dẫn là chuyện về bốn nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, cùng nghiên cứu về một tác giả quan trọng người Đức. Nhà văn Đức kia thì hoàn toàn vắng mặt, hành tung bí ẩn, nghe đâu không ở Đức mà ở một thành phố nào đó bên Mexico. Bốn nhà nghiên cứu đã theo dấu ông nhà văn Đức mà sang tận Mexico, nhưng càng theo càng mất dấu.

 

Dọc hành trình của bốn người này, người đọc dần dần tiếp xúc với một giáo sư đại học ở Mexico, một nhà báo Mỹ da đen sang Mexico đưa tin về một trận đấu quyền Anh, và liên tục những vụ giết người ở một thành phố Mexico mà nạn nhân hầu hết là phụ nữ. Khi đã đi qua hết những biên bản vụ việc, thì hóa ra tất cả đều có kết nối, như thế giới này đều có kết nối giữa những sự việc tưởng như xa xôi.

 

Nhân vật trung tâm là nhà văn Đức kỳ cựu, người đã đi qua chiến tranh thế giới II, từng phải đi lính phát xít, bị đẩy qua những chiến trường Nga, Ba Lan, Romania… từng đọc bản thảo của một cây bút Nga nào đó tìm thấy trong căn nhà hoang thời chiến, rồi trở thành một nhà văn quan trọng sau chiến tranh. Ông lấy bút danh, dường như muốn xóa đi cái tên khai sinh, như trốn chạy một quá khứ, trốn chạy người đọc và trốn chạy cả những nhà phê bình đang dò theo dấu vết của mình. Chạy trốn tất cả, nhưng rồi ở những trang kết thúc ông đã phải lộ diện. Người ta có thể chạy trốn tất cả nhưng không chạy trốn gia đình, huyết thống.

 

Roberto Bolano là nhà văn Chile, nhưng không đáp ứng sự chờ đợi của người đọc bằng một tác phẩm đầy chất Mỹ Latinh. 2666 sử dụng bút pháp tiểu thuyết phương Tây, đầy chất Âu - Mỹ. Hiện đại, thoáng rộng, không phải là hiện thực kỳ ảo Mỹ Latinh chất đầy truyền thuyết, phong tục và sự hoang dã âm u. Bối cảnh cũng mở ra rất rộng, từ Tây Âu (Đức, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha) qua Đông Âu (Nga, Ba Lan, Romania…) sang Mỹ, Mexico, Chile, những trang cuối lại trở về nước Đức. Nơi khép lại cũng chính là chỗ mở ra hành trình của nhà văn Đức, bắt đầu cho chuyến đi của ông sang Mexico, để tiếp theo đó sẽ là cuộc dò tìm của bốn nhà nghiên cứu Tây Âu, đề cập trong câu chuyện số 1. Khép lại để mở ra. Vừa đóng vừa mở, như cuốn sách phơi trên dây thép trong sân nhà giáo sư Mexico, phơi triền miên, không phải để cho khô mà như một tín ngưỡng, một mê tín, một lá bùa chờ đợi phép màu.

 

Bản dịch tốt. Chỉ có một số chỗ cần sửa:

 

Trang 21: Norton đi lùi phía trước họ: vậy ngược với câu này sẽ là đi tiến phía sau họ.

 

- Trang 48: cô nói chuyện với Subcomandante Marcos: viết như thế này, người đọc sẽ tưởng Subcomandante Marcos là họ và tên một ông nào đó. Thực ra Subcomandante là chức danh (phó chỉ huy).

 

Trang 48: đồng hành cùng người phóng viên đó: thừa chữ cùng. Riêng chữ đồng hành đã có nghĩa là “đi cùng”. Vậy chữ đồng hành, không nên dùng như động từ, mà chính xác là chỉ dùng như tính-danh từ, ví dụ: “bạn đồng hành, người đồng hành”.

 

Trang 49: như một cặp đôi: cặp là hai mà đôi cũng là hai. Một cặp đôi chắc phải là bốn. Có thể viết là “một bộ đôi” hoặc “một cặp tình nhân”, “một đôi bạn”

 

Trang 111: nhà học giả: đã “giả” thì “nhà” là thừa.

 

Trang 675: chỉ rặt toàn sách Quốc xã: chỉ rặt sách Quốc xã / chỉ toàn sách Quốc xã là đủ.

 

Trang 749: Hồi thời chiến: thời chiến, hoặc hồi chiến tranh là đủ.

 

Trang 768: nữ thần Muse: nên dịch ra là Nàng Thơ hoặc Nữ thần Thi ca.

 

Trang 772: cùng chung sống / cùng chung hoạn nạn: “cùng chung” là ngôn ngữ nói, nhiều người đã quen tai mà biến thành văn viết.

 

Trang 788: song hành cùng: lỗi này giống như đồng hành cùng. Thừa chữ “cùng”.

 

Trang 854: Archimboldi là anh của mẹ, người dịch có thể chọn gọi đó là ông cậu (cách gọi miền Trung và miền Nam) hoặc ông bác (miền Bắc). Ở trang này, người dịch chưa thống nhất được hai cách gọi.

 

--- --- ---

2666, tiểu thuyết của Roberto Bolano, Trần Tiễn Cao Đăng, Quân Khuê dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn 2020.

 

Cơn sốt lúc bình minh

 

Vừa mới kết thúc chiến tranh thế giới II, chàng trai Hungary hai mươi lăm tuổi được giải phóng khỏi nhà tù phát xít Đức và được đưa sang trại điều dưỡng ở Thụy Điển. Từng bị tra tấn đến mất cả hàm răng, chỉ còn nặng hai mươi chín cân, anh được bác sĩ chẩn đoán chỉ còn sống được sáu tháng nữa. Từ trại điều dưỡng, anh tìm được danh sách và biết còn 117 cô gái người Hung đang được triều trị trên khắp đất nước Thụy Điển. Anh viết thư cho cả 117 cô, 8 cô trả lời, trong đó có một cô mà anh chọn để tiếp tục thư từ. Một motif lạ dẫn người đọc vào một câu chuyện có hậu. 

 

 

Tác giả là đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của Hungary và ông kể lại câu chuyện thật của cha mẹ mình. Tình huống độc đáo, cách dẫn chuyện linh hoạt và hấp dẫn. Bắt đầu từ một câu chuyện bi thương, người đọc dần dần được trải nghiệm những thăng trầm cảm xúc trước tình người thời hậu chiến. Đầy đủ lo âu, hồi hộp và bùng nổ cảm xúc.

 

Vài chỗ cần chỉnh sửa:

 

- “Radio đã nói liên tục sáu tiếng liền” (trang 137) – đã “liên tục” thì thôi “liền”.

 

- “Trên bức ảnh Habana” – danh từ được dùng phổ biến là Havana, thủ đô Cuba.

 

- “Cha tôi… lúng túng mỉm cười… nụ cười làm lộ ra những chiếc răng giả của ông” (trang 151-152) – mỉm cười là kiểu cười không lộ răng.

 

Người Hungary họ là ai?

 

Một đất nước chỉ có mười triệu người mà có đến mười lăm giải Nobel, một con số ao ước của bất cứ quốc gia nào.

 

Rất dí dỏm, rất sinh động, kể những thành tựu và nhược điểm của con người và đất nước. Một gợi ý cho việc dựng chân dung một đất nước theo hướng tự phê bình. Bá Dương viết Người Trung Quốc xấu xí bằng giọng nghiêm khắc. Còn tác giả này thì hài hước giễu cợt.

 

Có nhiều câu chuyện và thành ngữ hay, ví dụ:

 

- Con rệp ho làm gì nếu như nó không có phổi.

 

- Trang 37: câu chuyện đùa về rượu cho người tửu lượng kém.

 

- Trang 146: ngạn ngữ Hung: tiếng chó sủa không vọng tới trời cao.

 

- Trang 163: một mỹ tục ở Phần Lan: mỗi bên bờ của dòng sông nhỏ có một chiếc thuyền cho bất cứ ai tự chèo qua sông, người ta tự giác chèo sang bờ bên kia, kéo con thuyền bên ấy về bờ bên này cho người sau, rồi mới lại chèo lần thứ ba sang bên kia để đi tiếp.

 

Vài chi tiết không chính xác:

 

-  “Những người có vẻ bề ngoài” (trang 128) – Chỉ cần viết “có vẻ ngoài” hoặc “có bề ngoài”.

 

-  “Tử hình một lúc mười hai vị tướng và một đại tá tướng lĩnh Hungary” (trang 149) – Cấp tá thì không phải là “tướng lĩnh”.

 

--- ---

Cơn sốt lúc bình minh, Gardos Peter, Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam và Lao Động 2018.

Người Hungary họ là ai? Lackfi Janos, Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn 2018.

 

Người đàn bà trên cầu thang

 

Cùng tác giả của tiểu thuyết Người đọc, Người đàn bà trên cầu thang cũng là tiểu thuyết ngắn như vậy, gần hai trăm trang. Họa sĩ và người làm mẫu để vẽ. Họa sĩ và nhà tài phiệt đặt vẽ bức tranh người vợ trẻ của ông ta. Họa sĩ và luật sư. Quan hệ oái oăm của bốn con người tạo ra những sự kiện chồng chéo phức tạp, lãng mạn mà nghiệt ngã, nhịp điệu của tác phẩm cũng vì thế mà khi thì dồn dập hối hả, khi chùng chậm uể oải.

 

 

Không hẳn đã tán đồng, nhưng xin trích một câu đáng suy nghĩ: “Tôi không hiểu những người về hưu đi du lịch… Trong những chuyến đi xa ấy họ cũng không thấy gì nhiều hơn trên ti vi. Những gì họ đem về nhà kể cho các cụ về hưu khác về miền đất lạ thì người ta đã biết cả rồi. Chuyện gì kể cho các con nghe thì chúng chẳng muốn biết. Khi họ vui sướng gặm nhấm ký ức, vì họ không đi xa được nữa, thì lại quên cả rồi. Đạt được tuổi già để cuối cùng được nhìn thấy thế giới là vô cùng ngớ ngẩn. Và đạt được tuổi già để nhìn lịch sử thế giới vẫn tiếp diễn hay nhìn con cháu lớn khôn cũng ngớ ngẩn nốt” (trang 88-89).

 

Một ý kiến thú vị và độc đáo, nhưng không khéo lại là lý do cho người trẻ ở Việt Nam không chịu lên đường, trong khi họ vốn đã ngại phiêu lưu.

 

Còn chị còn em

 

Nhà văn nữ người Hà Lan kể câu chuyện hai chị em sinh đôi người Đức nhưng chia lìa trước khi chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu. Cô em Lotte yếu ớt được một người họ hàng mang sang Hà Lan chữa bệnh. Cô chị Anna ở lại nước Đức, phải làm thuê làm mướn, được học trong nhà dòng, rồi chồng đi lính cho chính quyền phát xít bị chết, cô vào làm y tá cho Chữ Thập Đỏ. Lâu sau chiến tranh, hai chị em đều trên bảy mươi tuổi mới gặp lại nhau. Lotte khó hòa giải, buộc tội cho Anna là đã ở nước Đức và phải chịu trách nhiệm về những tội ác của chế độ phát xít.

 

 

Rậm về chi tiết, chậm về tiết tấu, không dễ đọc. Nhưng đọc xong thì có được một ấn tượng khá đậm. Định kiến và thành kiến, kỳ thị và chia rẽ, tất cả đều không dễ xóa bỏ, ngay cả khi đã được hỗ trợ bằng tình cảm huyết thống.

 

--- ---

Người đàn bà trên cầu thang, Bernhard Schlink, Lê Quang dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn.

Còn chị còn em, tiểu thuyết của Tessa de Loo, Lê Chu Cầu dịch, Nhã Nam và Hội Nhà văn.

 

Tự truyện Gandhi

 

Mahatma Gandhi, bậc đại thánh Ấn Độ, người chủ trương thuyết đấu tranh bất bạo động, cũng là người có kinh nghiệm tổ chức các hội đoàn lớn. Về các hội đoàn và ngân sách, ngay từ năm 1925, gần một trăm năm trước, ông đã nói như thể góp ý cho việc tổ chức các hội đoàn ở ta bây giờ: “Sau khá nhiều kinh nghiệm với bao nhiêu tổ chức công tôi đã điều khiển, tôi đâm ra quả quyết rằng không nên điều khiển những tổ chức công với ngân quỹ thường trực. Một ngân quỹ thường trực luôn luôn mang theo nó mầm mống của sự sa đọa tinh thần của tổ chức… Những tổ chức được duy trì ngân quỹ thường trực dễ làm ngơ công luận, và rất lắm khi có những hành động trái ngược với công luận” (trang 210).

 

 

Cũng gần một trăm năm trước, ông đã phê phán việc xu nịnh biếu xén quan chức và khuyên: “Một người làm việc công không nên nhận những món quà đắt giá” (trang 235).

 

Con trai nhỏ của Gandhi ăn chay theo đúng nếp sống gia đình. Nhưng khi con ốm, bị thiếu dinh dưỡng, bác sĩ khuyên cho con ăn trứng và cháo gà, Gandhi trả lời: “Chỉ có những dịp như thế này mới thực sự trắc nghiệm được đức tin của một người. Dù phải dù quấy, tôn giáo tôi cũng đã dạy rằng không được ăn thịt, trứng và những thứ tương tự. Phải có một giới hạn ngay cả trong những phương tiện để duy trì mạng sống của ta. Dù có vì sinh mạng của mình đi nữa, cũng có những việc mà chúng ta không được phép làm” (trang 261).

 

Người Ấn chia đời người thành bốn giai đoạn, trong đó giai đoạn cuối, sau khi đã hoàn tất gây dựng gia đình cho con cái, người đàn ông có thể buông bỏ tất cả, tập trung vào đời sống tinh thần. Gandhi bình luận về giai đoạn này: “Sự thành tựu bản thân chỉ khả hữu ở giai đoạn thứ tư trong đời, nghĩa là giai đoạn từ bỏ (sannyasa). Nhưng những người nào chần chờ để đến giai đoạn cuối đời mới chuẩn bị cho kinh nghiệm vô giá này thì không thể đạt đến sự thành tựu bản thân, mà (họ) chỉ đi đến tuổi già không khác gì một thời thơ ấu thứ hai thảm hại, như một gánh nặng trên mặt đất” (trang 353). Tức là Gandhi đã nói đến tình trạng “hai lần trẻ con” do người ta không chuẩn bị cho tuổi già.

 

Từng học luật ở Anh, sau đó hành nghề luật sư ở Nam Phi, Gandhi thực sự là người “ở trong chăn” khi bình luận về nghề: “Tôi lại được xác tín rằng hành nghề luật không tổn thương chân lý không phải là điều bất khả… Tuy nhiên, dù hành nghề một cách chân thật, ta cũng không thể chữa cho cái nghề ấy khỏi khuyết điểm căn bản đã làm hỏng nó”. (trang 380).

 

Hồ Anh Thái

--- ---

Tự truyện Gandhi, 1925, Ni sư Trí Hải dịch, Sách Khai Tâm và NXB Hồng Đức tái bản.