Đọc sách: Tháng 9-2021

Tiểu Luận

Vụ án mạng ở lữ quán Kairotei

 

Địa điểm vẫn chỉ là một cái quán Kairotei đó, nhưng đã có hai vụ cháy, một vụ mở đầu và một vụ kết thúc truyện. Vụ cháy thứ hai là để báo thù cho vụ cháy thứ nhất. Giữa hai vụ cháy là một quá trình tự điều tra của một thiếu phụ ba mươi hai tuổi, đóng giả làm một bà già gần bảy mươi.

 

 

Những người liên quan tập hợp nhau lại trong quán để nghe công bố về di chúc của ông đại gia đã khuất. Bất ngờ người ta nghe đồn có một bức thư tiết lộ về thủ phạm vụ cháy tàn khốc xảy ra trước đó. Một số kẻ trong quán đang tìm cách đoạt lấy lá thư đó. Và đã xảy ra hai vụ án mạng liên tiếp. Những người trong cuộc nghi ngờ lẫn nhau. Cảnh sát đến điều tra cũng tưởng như bị lạc lối trong những tình tiết rắc rối. Người đọc sẽ bị cuốn theo những tình tiết khó lý giải để đi đến một cái kết cục bất ngờ.

 

- Trang 105: tham sân siu – người dịch dùng sai chữ. Sân siu chỉ có nghĩa là sự tính toán không quá chi li. Còn ngữ đúng của nó phải là tham sân si, tức là ba thuộc tính mà con người cần loại bỏ: tham lam, thù hận, ngu dốt.

 

- Trang 106: tối thiểu nhất – “tối” đã có nghĩa là tột cùng, là nhất. Tối thiểu nhất là viết thừa.

 

- Trang 16: bình phục lại. Trang 108: hoàn toàn không kháng cự lại. Trang 178: tôi đã phản bội lại ông ấy. Trang 257: Naoyuki đã phản bác lại – trong cả mấy câu này đều thừa chữ “lại”. Người dịch đã lạm dụng văn nói khi viết.  

 

- Trang 31: một nam thanh niên trẻ. Trang 43: các cô gái trẻ - “thanh niên” có nghĩa là tuổi xanh. Một người tuổi xanh chắc chắn là trẻ. Một cô gái/một chàng trai cũng chắc chắn là trẻ. Viết thế này là thừa chữ.  

 

 

Ảo dạ

 

Sau cơn động đất, anh ta lợi dụng lúc ông cậu bị thương trong đống đổ nát để đập chết ông ta, xóa luôn một khoản nợ. Anh gặp một cô gái xinh đẹp, cứu cô ta khỏi tay một bọn người tấn công, rồi cùng cô ta rời Kyoto lên thủ đô. Ở đây bắt đầu những vụ án mạng bí hiểm liên quan đến cô gái.

 

 

Cũng giống như cái kết của Bạch dạ hành, ở đây câu chuyện đã kết thúc mà không sa vào công thức của truyện trinh thám là ta thắng địch thua. Vụ án chỉ còn một li nữa là được phá thì sa vào bế tắc hoàn toàn. Người đi phá án và một thủ phạm đồng thời là nhân chứng đã bị xóa sổ. Thủ phạm thực sự nhờ vậy mà sẽ thản nhiên sống tiếp, không còn ai để mà điều tra và làm nhân chứng cho tội ác của hắn.

 

Truyện trinh thám thường sa vào công thức: ta thắng địch thua. Một vụ án dù phức tạp thế nào, cuối cùng cũng bị phanh phui, thủ phạm bị bắt hoặc bị giết. Cái công thức ta thắng địch thua ấy khiến nhiều khi người ta không coi truyện trinh thám là một thể loại văn chương.

 

Nhưng truyện của Keigo thì khác. Trong Bạch dạ hành, ta thua địch thắng. Trong cuốn Ảo dạ này cũng vậy, kết cục là người đi phá án và nhân chứng đều bị xóa sổ. Thủ phạm nhờ thế mà sẽ không bị pháp luật động đến.

 

Keigo là tác giả chủ ý phá vỡ công thức của truyện trinh thám.

 

Sách của Keigo gần đây dịch ra tiếng Việt đã khoảng mười cuốn. Cuốn nào cũng hấp dẫn nhưng hay nhất vẫn là Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya (một câu chuyện kỳ ảo mơ màng), Bí mật của Naoko (câu chuyện kỳ lạ và độc đáo), Bạch dạ hànhẢo dạ (hai cuốn tiểu thuyết trinh thám mà phản trinh thám).

 

--- ---

- Vụ án mạng ở lữ quán Kairotei, tiểu thuyết của Higashino Keigo, Dã Tràng dịch, Nhã Nam và NXB Hà Nội 2020.

- Ảo dạ, tiểu thuyết của Higashino Keigo, Bảo Ngọc dịch, Nhã Nam và NXB Hà Nội.

 

 

Những chiếc ô va vào nhau

 

Tôi đọc Đời nhẹ khôn kham lần thứ hai, sau khoảng mười tám năm. Cùng lúc xem lại phim lần thứ bảy. Phim đã gạn lọc ra được phần tinh của sách, rất ra không khí Đông Âu thời xã hội chủ nghĩa. Phim cũng có phần hơi cốt truyện hóa tiểu thuyết, và tất nhiên không thể hiện được đầy đủ phần luận của sách. Nghe đâu Milan Kundera không hài lòng với phim, và sau khi xem phim, ông đã viết trong cuốn Sự bất tử: “Thời đại mới đang sục vào tất cả những gì được viết ra trước đây để chuyển thành phim, thành chương trình truyền hình hay thành phim hoạt hình. Vì thế điều quan trọng nhất trong tiểu thuyết chính là cái không thể nói bằng cách nào khác hơn tiểu thuyết, khiến cho mọi sự phóng tác nó đều không thể được. Nếu một kẻ điên nào hôm nay vẫn còn viết mà muốn giữ được những tiểu thuyết của mình thì hắn ta phải viết sao cho không ai có thể phóng tác được chúng, nói cách khác, viết sao cho không thể thuật lại được”.

 

 

Với công chúng công bằng thì bộ phim cũng là một tác phẩm điện ảnh xuất sắc, có thể xem lại nhiều lần, với những nghệ sĩ hàng đầu như Daniel Day-Lewis, Juliette Binoche, Lena Olin…

 

Bản dịch của Trịnh Y Thư in lần đầu năm 2002. Trong phần sáu, một nhóm nhà hoạt động nhân quyền phương Tây kéo nhau sang biên giới Thái Lan, từ đó nhìn qua biên giới sang Campuchia để tìm hiểu tình hình sau khi quân Khmer Đỏ đã bị quân đội Việt Nam tiêu diệt: “Campuchia trước đó ít lâu trải qua những biến cố kinh khủng, hết bị Mỹ bỏ bom rồi đến nội chiến, một cuộc chém giết giữa những phe phái [Cộng sản] nội bộ làm tiêu hao một phần năm dân số quốc gia nhỏ bé đó, [rồi cuối cùng còn bị quốc gia láng giềng Việt Nam sang xâm chiếm, Việt Nam lúc đó là nước chư hầu của Nga không hơn không kém]… Một tổ chức y học quốc tế nhiều lần xin phép vào cứu giúp nhưng [Việt Nam] nhất định chối từ” (trang 395-396).

 

Trên biên giới, từ phía Thái Lan nhìn sang phía Campuchia: “Lính canh [Việt Nam] nằm chờ bên kia sông, nhưng vị trí của họ được ngụy trang kỹ lưỡng nên chẳng ai thấy họ đâu” (trang 409).

 

Những chữ trong dấu móc [ ] trong bản in lần này đã bị biên tập cắt bỏ. Mấy chữ Việt Nam được thay bằng chữ “chính quyền” hoặc “đối phương”.

 

Có thể ghi lại nhiều đoạn đáng trích dẫn, nhưng ở đây chỉ dẫn vài đoạn mà lần đọc lại đã khiến người ta phải dừng lại chốc lát:

 

“Trời mưa phùn. Ai cũng vội vã bước tới, mọi người đồng loạt giương dù lên che đầu và lập tức đường phố đông như nêm cối. Những cây dù va vào nhau. Đàn ông còn lịch sự, khi đi ngang Tereza họ giương dù lên cao nhường chỗ cho cô bước qua. Đàn bà không thế. Họ nhìn thẳng phía trước, chờ đợi người đàn bà kia chấp nhận yếu kém hơn và lạng người sang bên tránh chỗ. Va dù vào nhau là thử thách sức mạnh” (trang 207).

 

(Tình cờ, lâu nay vẫn thường quan sát những người đàn bà giương ô dưới trời mưa và mặc cho ô va vào nhau, kiểu vô tình hoặc cố ý, đúng như Milan Kundera miêu tả).

 

Tác giả nói về những chế độ toàn trị: “Người nào nhận định các chế độ mafia chính trị đơn thuần chỉ là những tổ chức ăn cướp, người ấy không nhìn ra sự thật hết sức cơ bản: bọn cầm đầu các chế độ ăn cướp đó không phải bọn cướp, chúng là những kẻ cuồng nhiệt bám chắc vào niềm tin chúng tìm ra con đường duy nhất đưa con người đến thiên đàng. Chúng kiên quyết bảo vệ con đường đó, đến nỗi không ngần ngại giết hại không biết bao nhiêu mạng người” (trang 271).

 

Còn đây là tư tưởng có phần chịu ảnh hưởng từ thuyết khổ vì tham ái của nhà Phật: “Có lẽ sở dĩ chúng ta không yêu thương được ai là vì chúng ta khao khát được yêu thương, điều đó có nghĩa là chúng ta đòi hỏi cái gì đó (tình yêu) từ người bạn đời thay vì dâng hiến chính chúng ta cho người kia mà không kèm theo yêu cầu nào ngoại trừ sự có mặt của người đó” (trang 453).

 

--- ---

Đời nhẹ khôn kham, tiểu thuyết của Milan Kundera, Trịnh Y Thư dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn.

 

 

Steven Spielberg – Làm phim để cảm hóa

 

Chuyện kể về cuộc đời của ông vua phim bom tấn Steven Spielberg. Thuở bé đi học, bị bạn bè chọc ghẹo bắt nạt vì mình là người Do Thái, ông đã hóa giải được mâu thuẫn bằng cách lôi kéo những đứa bắt nạt vào trò chơi quay phim của mình. Tuổi thanh niên học hành dở dang, lúc nào cũng mơ ước trở thành đạo diễn, ông lẻn vào lập văn phòng làm việc ngay trong hãng phim Universal vài năm trời mà không ai phát hiện ra. Rốt cuộc, sau nhiều gian khó, sự say mê đã được đền đáp, ông được làm phim. Ông đã làm ra những bộ phim bom tấn như Hàm cá mập, Người ngoài hành tinh, Công viên khủng long kỷ Jura, Thảm sát ở thế vận hội Munich, Nhà ga sân bay... Không chỉ làm phim thương mại, những bộ phim nghệ thuật ông làm cũng mang về nhiều giải Oscar: Bản danh sách của Schindler, Giải cứu binh nhì Ryan

 

 

Cuốn sách thuộc bộ truyện tranh về danh nhân thế giới, do các tác giả và họa sĩ Hàn Quốc thực hiện. Truyện tranh màu, những nét vẽ điêu luyện được làm tối giản. Xem những truyện tranh như thế này, càng thấy các tác giả và họa sĩ Việt Nam đang nợ người đọc rất nhiều. Không nên chần chừ và tiếp tục sống trong ảo tưởng thành đạt của mình mà hãy nhanh chóng bắt tay vào những công trình nghệ thuật như thế này. Chưa vươn ra được đề tài thế giới như câu chuyện về đạo diễn Spielberg thì trước mắt, họ hẵng làm những tác phẩm bề thế về về các danh nhân người Việt.

 

Người dịch sách còn thiếu nhiều kiến thức về điện ảnh và xã hội, thiếu hụt cả tiếng Việt. Xin dẫn một số chỗ mà biên tập viên đã bỏ sót:

 

- Trang 55: tranh vẽ chú bé cười ngoác miệng rất to, nhưng tiếng cười lại dịch là hi hi hi, là tiếng cười tương đối nhỏ (cười to hơn phải là hê hê, hô hô, ha ha…)

 

- Trang 59: đang trong mục Thời đại phim câm, trong khoảng thời gian 1885-1920 mà người dịch viết: “những năm cuối thập niên 1920” – những năm cuối thập niên 1920 tức là khoảng từ 1926-1929, quãng thời gian đó không thuộc mục 1885-1920.

 

- Trang 59: mục Thời đại phim có tiếng (1920-1930) có câu “thập niên 20 của thế kỷ 19” – người dịch đã bị loạn khái niệm niên đại. Chính xác phải là “thập niên 20 của thế kỷ XX”.

 

- Trang 125: khát khao được đứng trước máy quay. Trang 127: chỗ của mình là đứng trước máy quay – nhân vật đang mơ ước trở thành đạo diễn, mà đạo diễn bao giờ cũng đứng sau máy quay. Đứng trước máy quay chỉ có diễn viên thôi.

 

- Trang 130: bộ phim truyền hình mang tựa đề - “tựa đề” là một chữ sai đã bị quen dùng. Đúng ra phải là “mang cái tên / nhan đề / tiêu đề”…

 

- Trang 131: người ta phân loại phim điện ảnh kể về những câu chuyện cuộc sống của nhiều người thành phim truyền hình – không có phim điện ảnh nào bị phân loại thành phim truyền hình. Người dịch/biên tập viên đã tự ý thêm chữ “điện ảnh” vào câu trên, làm sai hoàn toàn kiến thức về điện ảnh.

 

- Trang 140: thời gian sản xuất phim kéo dài quá lâu – tiếng Việt phải viết: kéo rất dài hoặc kéo rất lâu. Dịch từng từ kiểu này cũng giống như chỉ cần viết “tôi uống quá say”, nhưng có người đã viết trong bản dịch của mình: “Tôi đã uống say quá nhiều”.

 

- Trang 152: đi tìm báo vật cổ đại – lỗi phát âm, kiểu phương ngữ. Biên tập viên cần sửa thành “báu vật”.

 

- Trang 153: như rũ bỏ hoàn toàn sự tự tin, anh hoàn thành bộ phim – phải là “rũ bỏ hoàn toàn sự thiếu tự tin”.

 

- Trang 154: thủ đô Venice, nước Ý – sai về kiến thức địa lý.

 

- Trang 156: Cúp chiến thắng của liên hoan phim Cannes được làm dựa trên hình dạng tán lá cây cọ nổi tiếng ở vùng Cannes – người ta gọi là giải Cành Cọ Vàng, vì chỉ có hình một cành cọ thôi, không phải là cả tán lá.

 

- Trang 158: về nhà để hồi tưởng lại những ký ức tuổi thơ. Trang 162: tôi sẽ tái hiện lại kỷ băng hà – cả hai câu trên đều thừa chữ “lại”.

 

- Trang 174: dành giải phim hay nhất – giải thưởng phải tranh đoạt, giành giật, cho nên chính tả của nó phải là “giành giải”, khác với “dành dụm, dành cho, để dành”.

 

--- ---

Who? Steven Spielberg – Chuyện kể về danh nhân thế giới, truyện tranh Hàn Quốc, Nguyễn Thị Thắm dịch, NXB Kim Đồng 2020.