Đọc sách: Tháng 8-2021

Tiểu Luận

Sách cười và lãng quên

 

Vài chục năm gần đây, cái tên Milan Kundera luôn có trong danh sách chung khảo của giải Nobel văn chương. Thậm chí có những bút nhóm còn chất vấn giám khảo Nobel vì đã bỏ sót Milan Kundera. Bất kể những ồn ào, nhà văn ở tuổi 92 vẫn tiếp tục ra sách. Milan Kundera là người có văn phong trí thức nhất, uyên bác bậc nhất. Sách của ông đánh thức sự thông minh ở người đọc. Tiểu thuyết của ông đọc như tiểu luận, và tiểu luận của ông đọc như tiểu thuyết. Tức là tiểu thuyết của ông thuộc loại không dễ đọc, trong khi tiểu luận lại rất sinh động vì trong ấy thường có truyện.

 

 

Năm 1975, Kundera di cư từ Tiệp Khắc sang Pháp và Sách cười và lãng quên là cuốn sách đầu tiên của thời kỳ này, xuất bản năm 1979. Về cuốn sách này, không ai có thể nói chính xác hơn tác giả của nó: “Toàn bộ sách này là một cuốn tiểu thuyết dưới hình thức những biến tấu. Những phần khác nhau của nó nối tiếp nhau như những chặng khác nhau của một cuộc hành trình dẫn vào bên trong một chủ đề, bên trong một tư tưởng, bên trong một tình huống duy nhất và độc nhất mà việc hiểu nó đối với tôi đã biến mất trong cõi xa xăm… Đây là cuốn tiểu thuyết về cái cười và sự lãng quên, về sự lãng quên và về Praha, về Praha và về các thiên thần” (trang 296).

 

Dịch giả Ngân Xuyên là người dịch Kundera sớm nhất ra tiếng Việt, cũng là người dịch đúng hơn cả thần thái của nhà lý luận bên trong một nghệ sĩ. Những cuốn đầu tiên Ngân Xuyên dịch của Kundera: Sự bất tử, Chậm, Căn cước, gần đây đã được Nhã Nam tái bản bằng một hình thức giản dị, trang nhã. 

 

Sách cười và lãng quên gồm có bảy phần:

 

- Những bức thư bị mất: người đàn ông đi gặp người tình cũ để đòi lại những bức thư tình đã gửi cho cô. Một chiếc xe và hai người mật vụ bám đằng sau. Người đàn bà không trả lại thư. Trong khi ấy ở nhà anh, người ta đang khám nhà và tịch thu những tài liệu anh ta ghi chép về xã hội.

 

- Mẹ: bà mẹ đến thăm con trai và con dâu, cố ở lại thêm hai ngày, trong khi cặp vợ chồng không muốn, vì cuối tuần họ phải tiếp một cô bạn từ xa đến.

 

- Các thiên thần: hai cô sinh viên phải trình bày trước lớp về vở kịch Tê giác của Ionesco. Một sự cố xảy ra khiến hai cô gái và cô giáo đã hóa thành thiên thần – cùng lúc tác giả kể chuyện mình phải mượn bút danh để bí mật giữ mục chiêm tinh trên tờ tạp chí dành cho thanh niên – hình ảnh điệu múa tập thể: bá vai nhau và tạo thành vòng tròn, khi một người bị hất ra ngoài thì vòng tròn khép lại, anh ta không bao giờ chen nổi vào cái vòng tròn ấy được nữa.

 

- Những bức thư bị mất: Khi cặp vợ chồng lặng lẽ ra đi, họ không thể mang theo những quyển sổ ghi chép cá nhân mà để lại trong căn hộ của bà mẹ chồng. Giờ người chồng đã chết, Tamina nhờ một cô bạn có dịp sang Praha, gặp mẹ chồng để lấy những cuốn sổ đó. Tuy nhiên, qua điện thoại, bà mẹ chồng tỏ ý không hợp tác, dẫn đến việc Tamina phải dàn xếp từ xa. Người bạn thay đổi kế hoạch, không sang Praha nữa thì người tình mới của Tamina nhận sẽ đi giúp…

 

- Lítost: chàng sinh viên bắt bồ với một thiếu phụ ở thành phố nhỏ khi chàng về đấy nghỉ hè. Sau đó thiếu phụ tìm lên thăm chàng ở Praha, đúng vào buổi tối chàng muốn đến dự cuộc gặp gỡ với các nhà văn nhà thơ lớn tại câu lạc bộ. Đấy là một đêm đáng nhớ của chàng với cánh văn chương đồng thời với cả thiếu phụ nọ. 

 

- Các thiên thần: một người đàn ông làm quen với Tamina trong quán cà phê mà cô đang làm việc. Tamina quyết định bỏ hết để lên đường với người đàn ông. Một chú bé chèo thuyền đưa cô sang một hòn đảo chỉ toàn trẻ con, bắt đầu một cuộc sống mới với lũ trẻ lạ lùng.

 

- Biên giới: xâu chuỗi những câu chuyện tưởng như không liên quan. Một người bạn suy kiệt dần rồi mất vì bệnh tật. Những hoan lạc trong đám bạn bè. Một câu chuyện lập thể và giống như ảo giác.

 

Hồ Anh Thái

 

--- ---

Sách cười và lãng quên, Milan Kundera, Ngân Xuyên dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn 2021.

 

Who? Mahatma Gandhi –

Chuyện kể về danh nhân thế giới

 

Mahatma Gandhi (1869-1948) được người Ấn Độ tôn là bậc đại thánh. Mahatma có nghĩa là “linh hồn vĩ đại” hay là “đại thánh”, chữ này được đại thi hào Ấn Độ Tagore dùng để gọi Gandhi.

 

 

Gandhi là người khai sinh ra thuyết kháng cự thụ động, hay là đấu tranh mà không dùng đến phương pháp bạo lực. Ông cũng là người tổ chức phong trào chống thuế muối do thực dân Anh áp đặt lên Ấn Độ. Một đoàn diễu hành dài hàng cây số do Gandhi dẫn đầu, đi bộ 400 km trong cái nắng gay gắt của miền trung Ấn Độ đến bờ biển để tự sản xuất muối, khuấy động tinh thần đấu tranh. Gandhi còn kêu gọi tẩy chay hàng hóa của Anh, khắp nơi người dân chất hàng hóa đồ dùng của Anh thành đống và đốt, và mọi người được khích lệ tự trồng bông kéo sợi, tự quay xa dệt vải để duy trì nghề dệt của người Ấn. Cuối cùng, nỗ lực đấu tranh của Gandhi đã thành công. Năm 1947 thực dân Anh phải trao trả độc lập cho Ấn Độ. Nhưng bạo lực lại bùng lên khi chia cắt đất nước làm hai quốc gia là Ấn Độ và Pakistan. Cha già dân tộc Gandhi đã tuyệt thực để kêu gọi đoàn kết giữa người theo đạo Hindu và đạo Hồi. Đầu năm 1948, chỉ năm tháng sau khi Ấn Độ độc lập, Mahatma Gandi bị một kẻ cực đoan theo đạo Hindu ám sát. Di sản đấu tranh bất bạo động của ông vẫn còn mới mẻ cho đến bây giờ, trong một thế giới bạo lực cực đoan vẫn đang nổi lên đây đó.  

 

Tập truyện tranh kể sinh động cuộc đời của Gandhi. Từ chú bé trong một gia đình mộ đạo, tuyệt đối ăn chay, nhưng đã bí mật thử ăn thịt một lần cho giống người Anh, để tìm hiểu lý do họ cai trị được người Ấn. Khi sang Anh học luật, chàng sinh viên cũng đổi sang ăn mặc và sinh hoạt như người Anh, nhưng đã từ bỏ vì ăn mặc như người Anh vẫn không hiểu được tính cách và tư tưởng của họ. Ông sang Nam Phi hành nghề luật để bảo vệ người Ấn trong chế độ phân biệt chủng tộc, và chính ông đã bị ném ra khỏi toa tàu của người da trắng. Từ đó Gandhi bắt đầu tổ chức đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chống thuế thân, chống quy định hạn chế người Ấn đi lại. Ông đã lập ra công xã để người dân hợp tác lao động sản xuất theo mô hình công xã của Leo Toltoy. Từ những cuộc đấu tranh ở Nam Phi đã hình thành một nhà lãnh đạo cách mạng sau này, thành công trong việc đòi độc lập cho Ấn Độ.

 

Người dịch và  biên tập viên cần sửa lại một số điểm:

 

- Trang 26: Gandhi đã có dũng khí để phản kháng lại sự phân biệt đối xử bất công. Trang 87: phản bác lại – cả hai câu đều thừa chữ “lại”.

 

- Trang 53: chiếc mũ truyền thống của Ấn Độ gọi là turban – turban không phải là mũ, mà là chiếc khăn xếp đội đầu của đàn ông.

 

- Trang 76: thánh Allah – Allah là đấng tối cao, là chúa trời nên không phải là thần thánh. Nên gọi là “Đức Allah”.

 

- Trang 94: sát nhập – viết đúng là “sáp nhập”.

 

- Trang 97: Tagore là nhân vật nổi tiếng đã nhận giải Nobel Văn học của Ấn Độ – để khỏi nhầm lẫn, nên viết “Tagore là nhân vật nổi tiếng [người Ấn Độ] đã nhận giải Nobel Văn học. Giải Nobel bao trùm thế giới, không phải của riêng Ấn Độ.

 

- Trang 107: suy nghĩ rất nung = suy nghĩ rất lung. Ngọng thế mà người dịch, biên tập viên, người sửa bản in đều không nhận ra.

 

- Trang 110: Banglades – viết đúng là Bangladesh.

 

- Trang 112: bang Punja – viết đúng là bang Punjab.

 

- Trang 143: hãy cùng chung tay với chúng tôi – đã chung tay thì thôi “cùng”.

 

- Trang 155 và trang 159: thủ tướng Nahru – viết đúng là Nehru. Trong các văn bản, các công văn giấy tờ, các sự kiện, viết sai tên người là thiếu tôn trọng, thà rằng không viết thì thôi.

 

Hồ Anh Thái

--- ---

Who? Mahatma Gandhi – Chuyện kể về danh nhân thế giới, Nguyễn Thị Hồng Hà dịch, nxb Kim Đồng 2020.

 

Bản chất của người

 

Bối cảnh của tiểu thuyết là phong trào biểu tình ở Gwangju năm 1980, chống chế độ độc tài Chun Doo-hwan. Vụ đàn áp này về sau đã bị những chính phủ dân chủ ở Hàn Quốc coi là một trang đen tối trong lịch sử đất nước. Nhiều hành động sửa sai đã được thực hiện.

 

 

Cuốn tiểu thuyết được cấu trúc thành sáu chương và một đoạn kết.

 

Con chim non: câu chuyện về chú bé mười lăm tuổi đi tìm bạn bị thương ngay trước mắt mình rồi người bạn bị đưa đi biệt tích. Chú bé trong khi tìm bạn đã gặp những người chiến đấu đòi chống thể chế độc tài, chú được phân công ngồi canh tám mươi ba xác người, chờ người nhà đến nhận.

 

Hơi thở đen: lời kể của hồn ma chú bé, sau khi chú đã chết trên chiến lũy. Hồn ma chứng kiến những hành động quả cảm và tuyệt vọng của những người biểu tình chống quân chính phủ độc tài.

 

Bảy cái tát: câu chuyện của cô nhân viên xuất bản bị cảnh sát chìm nghi ngờ và cho bảy cái tát. Lần lượt sau mỗi cái tát, chuyện về những người đấu tranh dân chủ được tái hiện cùng với sự đàn áp của binh lính.

 

Thép và máu: lời kể của một người chỉ huy trên chiến lũy bị bắt giam, bị tra tấn cùng với đồng đội.

 

Mắt của đêm: lời kể của một nữ chiến sĩ tham gia chiến đấu, về sau nhận được một máy ghi âm cùng mấy cuộn băng và lời đề nghị chị kể lại những gì mắt thấy tai nghe trong những ngày bi thảm đã qua.

 

Về nơi hoa nở: câu chuyện của người mẹ mất con, đã tìm đến tận chiến lũy nơi chú bé bị kẹt lại. Nỗi đau của người mẹ kéo dài mấy chục năm sau.

 

Đoạn kết: Ngọn đèn tuyết phủ: Đến những trang cuối cùng, tác giả mới đứng ra trực tiếp kể lại quá trình gặp gỡ nhân chứng, sưu tầm tài liệu và thấy cần phải lên tiếng về vụ đàn áp phong trào Gwangju từ hơn ba chục năm trước.

 

Tiểu thuyết gây ấn tượng như một hồ sơ, một bản tường trình tỉ mỉ về phong trào Gwangju 1980. Chỉ khác, văn bản điều tra không đi vào sự kiện cụ thể mà tái hiện cảm xúc của các nhân vật, người còn sống và linh hồn người đã chết. Mạnh mẽ, xúc động, như một sự thanh toán sòng phẳng với quá khứ. Cuộc đàn áp biểu tình càng mở rộng ý nghĩa khi được liên tưởng đến sự tàn bạo của binh lính Nam Hàn trong chiến tranh Việt Nam, và “giống như người ta đã làm ở đảo Jeju, ở Quảng Đông hay Nam Kinh, ở Bosnia, ở tất cả những nơi tại Tân Thế Giới, với một sự tàn bạo giống hệt nhau như thể đã được khắc sâu trong ADN vậy” (trang 152). Nạn diệt chủng ở Campuchia cũng được nhắc đến: “Được biết vào mùa thu năm 1979, khi cuộc đấu tranh Bu-Ma bị đàn áp, trưởng phòng Cảnh vệ của Nhà Xanh Cha Ji Cheol đã nói thế này với Park Chung Hee: Ở Campuchia, lại có thêm hai triệu người chết đấy ạ. Chẳng có lý do gì mà chúng ta không làm được như thế” (trang 235). Như vậy thảm kịch ở Gwangju là thảm kịch được khảo sát ở tầm nhân loại, và như tên của cuốn sách “Bản chất của người”, nó xuất phát sâu xa từ trong đó.

 

Chỉ hơi băn khoăn một chút, ở đoạn kết, tác giả tự ý thức về sứ mệnh của mình quan trọng và to tát quá, thành ra để lộ những ý nghĩ hơi cao cả và hơi văn vẻ: “Tôi bước đi, tay phải ôm lấy ngực trái như đang nén chặt trái tim mình” (trang 241). Những câu làm văn như vậy làm hao hụt sự xúc động và cả tính chân thực của thiên tiểu thuyết vốn gần với phóng sự điều tra.

 

Một vài chỗ trong bản dịch có thể sửa chữa được:

 

- Tóc tết hai bên xù ra rất nhiều tóc con (trang 14): tóc con, tiếng Việt nói cho thuận là tóc nhỏ, hay là tóc tơ.

 

- Cùng đồng thanh nói (trang 166, 179): nên viết là “cùng nói” hoặc “đồng thanh nói”. “Đồng” vốn đã có nghĩa là “cùng”.

 

- Cô gái trẻ (trang 37, 181, 190, 199): cô gái tất nhiên là trẻ, cũng như chàng trai hay anh thanh niên tất nhiên là trẻ. Thêm chữ trẻ rõ ràng là thừa. Ngay trong tiếng Anh, các nhà ngôn ngữ cũng phê phán việc viết thừa khi có người viết young girl, young boy (cô gái trẻ, chàng trai trẻ). 

 

--- ---

Bản chất của người, tiểu thuyết của Han Kang, Kim Ngân dịch, Nhã Nam và NXB Hà Nội 2019.

 

Sống sót ở Berlin

 

William E. Dodd được cử đi làm đại sứ của Mỹ tại Đức từ năm 1933, đúng vào năm Hitler trở thành thủ tướng Đức. Khi ấy nước Mỹ bắt đầu lo ngại vì những biểu hiện khác lạ của chính quyền mới ở Đức, và một nhiệm vụ quan trọng chính phủ Mỹ giao cho đại sứ Dodd là tìm cách đòi cho được 1 tỷ USD Đức đang nợ Mỹ, một khoản nợ lớn và đang trở nên khó đòi.

 

 

Trong hơn bốn năm làm đại sứ tại Đức, ông dần dần nhận ra chân tướng của Hitler cùng nguy cơ phát xít đối với châu Âu và thế giới. Ông đã cảnh báo với bộ Ngoại giao và chính quyền Mỹ nhưng do sự khác biệt trong đánh giá, cùng mâu thuẫn về quan điểm và sự đố kỵ nội bộ ở bộ Ngoại giao, những cảnh báo của ông không được tiếp nhận.

 

Thông qua nhật ký và ghi chép của Dodd, cùng hồi ký của con gái ông và những quan chức liên quan ở hai nước, tác giả đã dựng lại bầu không khí nước Đức trong sáu năm Hitler làm thủ tướng, cho đến khi chiến tranh thế giới II bắt đầu. Sự thanh trừng nội bộ của Hitler đối với lực lượng SA, sự đàn áp man rợ với người Do Thái và khủng bố đối với cả người nước ngoài.

 

Dodd vốn là giáo sư sử học, ông đang nung nấu ý tưởng viết một cuốn sách sử thi về miền Nam nước Mỹ, thì được tổng thống Roosevelt cử đi làm đại sứ ở Đức. Ông chủ trương sống giản dị, đạm bạc, chỉ dựa trên đồng lương mà không tiêu xài xa xỉ như các nhà ngoại giao khác. Ông cũng đề xuất lối sống này cho các nhà ngoại giao là đồng nghiệp nhưng bị cô lập, thậm chí bị đố kỵ căng thẳng, những cảnh báo về nguy cơ phát xít mà ông đưa ra bị cấp trên và đồng nghiệp ngoại giao phớt lờ. Sự coi thường của cánh ngoại giao chuyên nghiệp Mỹ cũng như châu Âu, không có biện pháp cứng rắn kịp thời, đã dẫn đến sự trả giá ở cả châu Âu và thế giới.

 

Sách tư liệu nhưng được viết rất hấp dẫn, sống động, người đọc khó dứt ra cho được.

 

Một số lỗi dịch:

 

“Mọi thứ đang trở nên ngày càng nguy hiểm và ngột ngạt hơn đối với người Do Thái gốc Đức” (trang 110) – chắc là dịch giả nhầm, phải là “người Đức gốc Do Thái” mới đúng.

 

“Hắn sẽ tự chứng tỏ mình nếu không phải là một kẻ thù đẫm máu của chúng ta, thì ít nhất cũng là một sản phẩm của sự hủy diệt” (trang 230) – nên dịch là “kẻ thù khốn kiếp”, chữ “bloody” ở đây không có nghĩa là đẫm máu.

 

“Một bức tượng gỗ chạm khảm hình một nữ tu” (trang 233) – tượng gỗ thì được tạc, hoặc tạo tác… chạm gỗ và khảm gỗ lại là thể loại khác.

 

“Ở tuổi mười sáu, anh gia nhập Hồng Vệ binh” (trang 283) – đây là chuyện kể của một nhà ngoại giao Liên Xô, từng là chiến sĩ. Vậy đúng ra là anh ta gia nhập Hồng quân. Còn Hồng Vệ binh là một lực lượng ở Trung Quốc thời cách mạng văn hóa.

 

--- ---

Sống sót ở Berlin, Erik Larson, Nguyễn Quang Huy dịch, Bách Việt và NXB Lao Động.