Đọc sách: Tháng 7-2021

Tiểu Luận

Khi yêu cần nhiều dũng cảm

 

 

Đây là cuốn tiểu thuyết thú vị nhất của Chetan Bhagat, cây bút tiếng Anh đang được giới trẻ Ấn Độ rất ưa chuộng. Hài hước, thông minh, đầy ắp sự kiện và nhịp độ nhanh.

 

Cuốn này còn thú vị hơn cả Ba chàng ngốc (Five Point Someone) là cuốn đầu tiên của cùng tác giả, sau đó được chuyển thành bộ phim còn hấp dẫn và vui hơn tiểu thuyết, là bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại của Ấn Độ.

 

Cho đến nay, Nhã Nam đã dịch in của Chetan Bhagat bốn tiểu thuyết: ngoài hai cuốn đã kể, còn có Ba sai lầm của đời tôi (The 3 Mistakes of My Life), Ngày đẹp hơn sẽ tới (tên tiếng Anh là Revolution 2020Cuộc cách mạng 2020).

 

Tên sách Khi yêu cần nhiều dũng cảm trong tiếng Anh là Two States: The Story of My Marriage (Hai tiểu bang – Chuyện hôn nhân của tôi). Nhìn vào tên sách tiếng Anh thì thấy tác giả này đặt tên sách hơi thật thà.

 

Và rồi núi vọng

 

Tiểu thuyết xoay quanh chuyện một người anh trai và em gái. Mẹ chết, bố lấy vợ khác và có thêm một em trai.

 

 

Anh của mẹ kế là bác Nabi lái xe cho một ông chủ ở Kabul đã đưa đứa bé gái ba tuổi lên bán cho ông bà chủ làm con nuôi (một cách giúp cho gia đình em gái và em rể). Thế là bắt đầu năm mươi năm xa cách, cuốn vào đó số phận của vợ chồng ông chủ ở Kabul. Bà vợ ông chủ về sau thành nhà thơ, bỏ sang Paris cùng đứa con gái nuôi. Đứa em gái sang Paris cùng mẹ nuôi, hơn năm chục năm sau đi tìm người anh ruột, lúc này sống ở Mỹ và đã mất trí nhớ.

 

Cũng như những cuốn tiểu thuyết trước đó như Người đua diều, Ngàn mặt trời rực rỡ, ở cuốn tiểu thuyết này Khaled Hosseini chứng tỏ là một người kể chuyện xuất sắc – một khả năng tạo dựng cốt truyện hay và dẫn chuyện với kỹ thuật cao.

 

Thoát đến phương Tây

 

Một cặp trai gái Pakistan, tìm đường di tản ra khỏi vùng chiến tranh. Một cánh cửa bí ẩn trong nhà dẫn lối cho họ đến một đất nước khác. Không chỉ một mà nhiều con đường lạ lùng dẫn đến những vùng đất xa xôi. Cuộc sống của người di cư, thân phận ngụ cư trên những vùng đất lạ. Bối cảnh có khi là ở Sydney, Tokyo, California, Vienna, London, Amsterdam, Nigeria… nhưng hầu như các địa danh đều bị xóa mờ, chỉ còn lại ấn tượng về những chốn tha phương.

 

 

--- ---

- Khi yêu cần nhiều dũng cảm (2 states: Story of My Marriage), Nguyễn Thị Hương Thảo dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn.

- Và rồi núi vọng, tiểu thuyết của Khaled Hosseini, Tất An dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn.

- Thoát đến phương Tây, tiểu thuyết của Mohsin Hamid, Dương Mạnh Hùng dịch, Phương Nam và NXB Thế Giới.

 

Bệnh nhân người Anh

 

Tiểu thuyết mang tên Bệnh nhân người Anh nhưng thực ra xoay quanh cô y tá Hana người Canada. Từ nhân vật này mở rộng ra “bệnh nhân người Anh” Almasy, chàng công binh Kip, người Anh gốc Ấn Độ, và một người lính Canada tên là Caravaggio. Từ tuyến của bệnh nhân người Anh lại xuất hiện một số nhân vật hiện về trong ký ức, trong đó nổi bật là nàng Katherine, vợ của một nhà thám hiểm địa lý từ trên không với chiếc máy bay của mình.

 

 

Bệnh nhân người Anh, bị bỏng toàn thân, biến dạng cả gương mặt, nằm trong một tu viện hoang tàn của nước Ý, và nhớ lại mối tình thầm lén với nàng Katherine… Đấy là câu chuyện về những con người thuộc nhiều quốc tịch và màu da, gặp nhau trong cuộc Đại chiến thế giới thứ hai – y tá, bệnh nhân, lính công binh… – nhiều khi bi thảm, nhiều khi lãng mạn, hào hùng. Nhưng đây không chỉ là chuyện chiến tranh, từ bối cảnh chiến tranh, người ta lưu luyến mối tình quá khứ, sự chia ly, cùng dự cảm tương lai.

 

Câu chuyện của tiểu thuyết không mạch lạc mà theo một cấu trúc đứt gãy, chập chờn lúc ẩn lúc khuất, như dòng hồi ức đứt nối của cô y tá và bệnh nhân người Anh. Mối tình trong chiến tranh của cô y tá với anh lính công binh gốc Ấn theo đạo Sikh được thể hiện thật lãng mạn, làm tăng sự tươi tắn cho bối cảnh chết chóc của chiến tranh và sự hoang tàn của lòng người. Văn phong đầy chất thơ, nhiều nhạc điệu, lại chủ ý giản lược các hư từ của Michael Ondaatje là một thách thức không dễ vượt qua đối với những người chuyển dịch sang ngôn ngữ khác.

 

 

Bệnh nhân người Anh đoạt giải Booker và giải của Toàn quyền Canada năm 1992, rồi được chuyển thành bộ phim thành công vang dội năm 1996. Phim không chỉ đoạt chín giải Oscar mà còn đoạt giải Quả Cầu Vàng và giải BAFTA của Viện hàn lâm điện ảnh Anh. Biên kịch và đạo diễn của phim đã cấu trúc lại, tạo cho phim một cốt truyện mạch lạc, phù hợp với tiếp nhận của người xem phim mà vẫn giữ được chất bi hùng và lãng mạn của tiểu thuyết. Bộ phim hầu như đã giữ được trọn vẹn hồn cốt của tiểu thuyết, hình ảnh hóa những chi tiết rất gợi như đoàn nghiên cứu địa lý trong sa mạc phát hiện ra động người bơi lội với những hình vẽ của người nguyên thủy trên vách đá; nhà khảo sát địa lý gốc Hungary (về sau là bệnh nhân người Anh) luôn mang theo mình quyển sách của sử gia Hy Lạp cổ đại Herodotus, kèm những dòng ghi chép và nhắn gửi của Almasy cho người tình; chi tiết cô y tá chơi đàn dương cầm trong tu viện đổ nát mà không biết chiếc đàn đã bị quân Đức gài mìn trước khi rút lui; hoặc chi tiết cô y tá hằng ngày đọc sách cho bệnh nhân người Anh nghe; hoặc chàng công binh Kip và cô y tá Hana chiêm ngưỡng những bức tranh tường trong nhà thờ hoang tàn…    

 

--- ---

Bệnh nhân người Anh, tiểu thuyết của Michael Ondaatje, Hồ Như dịch, Bách Việt và nxb Lao Động

 

Những người đàn bà lừng danh trong lịch sử

 

Cuốn sách này được tác giả Nguyễn Vỹ viết tại Sài Gòn từ năm 1969, nhưng những ghi nhận về các nhân vật lừng danh trên thế giới thì đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Đó phần lớn là những nữ hoàng bà chúa đã để lại danh tiếng và cả tai tiếng trong lịch sử thế giới.

 

 

Đầy ắp những chuyện li kỳ về những người đàn bà đầy mưu mô quyền thế và dục vọng vô độ như hoàng hậu Ai Cập Cléopatre, hoàng hậu Saba, hoàng hậu Théodora, hai người đàn bà liên quan đến bạo chúa Nero ở La Mã cổ đại là Poppée và Agrippine, mấy người đàn bà ở Trung Hoa cổ như Đát Kỷ, Vũ Tắc Thiên, Ưng Quý phi, Từ Hy Thái hậu, những người yêu của Napoléon, sáu bà vợ của vua Henry VIII… cho đến Eva Péron phu nhân tổng thống Argentina thời hiện đại, hoặc nàng công chúa Nga có số phận bi thảm và éo le Anastasia.

 

Cả cuốn sách chỉ có một nhà khoa học lừng danh thế giới là bà Marie Curie, nhưng có thể Nguyễn Vỹ viết về bà từ năm 1969 và còn thiếu tài liệu, nên chỉ đề cập lần đầu tiên bà đoạt giải Nobel. Trên thực tế, Marie Curie đã hai lần đoạt giải Nobel, một kỷ lục rất hiếm hoi trong giới khoa học thế giới, chưa nói đấy lại là nhà khoa học nữ phải vượt qua rất nhiều khó khăn và nhiều lực cản.

 

Trong hai mươi mốt nhân vật được tác giả điểm danh, có một nữ điệp viên ở chiến tranh thế giới lần thứ I là Mata Hari. Nhiều sách đánh giá thấp vai trò điệp viên của Mata Hari, nhưng Nguyễn Vỹ lại cho rằng dù không có ý thức làm điệp viên, nhưng những thông tin mà Mata Hari vô tình chuyển giao qua lại cho các đối thủ ở châu Âu lại có tính chiến lược và đáng kể.

 

Tác giả xếp lên đầu bảng một người đàn bà Việt Nam: Trưng Nữ Vương. Theo ông, đây là người nữ anh hùng số một trong lịch sử thế giới. Ông so sánh bà Trưng với nữ thánh Jeanne d’Arc được nước Pháp khuếch trương: về chiến công và tầm ảnh hưởng của chiến công thì bà Trưng đều vượt lên về mọi mặt. Ông cho rằng nếu người Việt khéo tuyên truyền, đề cao, sùng bái thì vai trò của bà Trưng trên trường quốc tế sẽ được đánh giá đúng mức hơn. “Đọc lại lịch sử Jeanne d’Arc và Trưng Trắc, so sánh sự nghiệp, chiến công và cả vị trí của hai nữ kiệt này trong bối cảnh lịch sử đương thời của hai nước, thì sự cách biệt thật là xa lắc xa lơ. Jeanne d’Arc không tạo được những nét oai phong, hùng dũng, những chiến công oanh liệt phi thường như Trưng Trắc… Hơn hết tất cả, Trưng Nữ Vương đã xây dựng được một triều đại chính thống cho dân tộc Việt Nam ở thế kỷ I, đã một lần đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, và nhiều lần đánh tan rã quân thù của một đế quốc hùng cường bậc nhất Á Đông”.

 

Nguyễn Vỹ là nhà văn - nhà thơ nổi tiếng từ trước năm 1945. Sự nghiệp dày dặn của ông là nhiều tập thơ văn, trong đó nổi bật là những tập Văn thi sĩ tiền chiến, Tuấn - chàng trai nước Việt…   

 

--- ---

Những người đàn bà lừng danh trong lịch sử, Nguyễn Vỹ biên khảo, nxb Văn Học tái bản 2020.

 

Cô Tư Hồng

 

Cuốn sách được Trung Bắc Thư Xã xuất bản lần đầu năm 1941, sau khi đã in nhiều kỳ trên báo Trung Bắc tân văn chủ nhật. Cô Tư Hồng (1869-1921) vốn nổi tiếng là một me Tây, trải qua mấy đời chồng là người Tàu, người Pháp. Từ một cô gái quê không chịu lấy chồng do cha sắp đặt, trốn nhà ra đi, tự mình làm ăn buôn bán, cho đến khi trở thành một nhà buôn bậc nhất, trúng thầu cung cấp lương thực và nhu yếu phẩm cho người Pháp, trúng thầu phá thành cổ Hà Nội để lấy đất xây dựng những công trình mới. Sai lầm cuối đời của cô là lấy cụ cố Hồng, một cố đạo trẻ người Pháp phá giới, dẫn đến việc cô bị các đối tác Pháp tẩy chay, làm ăn lụn bại, rồi cô chết vì bệnh lao.

 

 

Cuộc đời lấy chồng Tàu chồng Tây, rồi buôn bán thủ đoạn, xoay trở từ con buôn sang lách luật bằng cách làm từ thiện, rồi được triều đình sắc phong ban thưởng… khiến cho Tư Hồng trở thành đối tượng chế giễu sâu cay trong thơ phú của các nhà nho, trong đó có cụ Nguyễn Khuyến. Tư Hồng vì thế đã trở thành nhân vật truyền thuyết, một điển hình của đám đàn bà Việt lấy chồng Tây.

 

Tác giả đưa vào sách những tư liệu lịch sử, chẳng hạn khi cô Tư Hồng phá thành Hà Nội thì sách dành mấy trang kể về lịch sử thành cổ này. Bản in lại của Tao Đàn có nhiều chú thích công phu: những sự kiện lịch sử, những từ Hán Việt, những thành ngữ tục ngữ cổ, những thuật ngữ tiếng Pháp… giúp người đọc hôm nay dễ tiếp cận cuốn sách viết từ thập kỷ bốn mươi của thế kỷ hai mươi.

 

Cũng đề tài này, năm 2014 tác giả Nguyễn Ngọc Tiến cho ra tiểu thuyết Me Tư Hồng, NXB Trẻ. Đối chiếu thì thấy Nguyễn Ngọc Tiến có dựa chút ít vào tư liệu, nhưng đã hư cấu nhiều theo hướng tiểu thuyết. Còn cuốn sách của Đào Trinh Nhất đã bám sát các sự kiện có thật, đúng kiểu tiểu thuyết tư liệu.

 

--- ---

Cô Tư Hồng, tiểu thuyết của Đào Trinh Nhất, Tao Đàn và NXB Văn Học.

 

Bí mật cuộc đời các danh họa và điêu khắc gia nổi tiếng

 

Thuộc loại sách bí mật cuộc đời các danh nhân (Nhã Nam đã xuất bản một số cuốn về bí mật cuộc đời các tổng thống Mỹ, các đại văn hào, các triết gia), cuốn này vẫn liền mạch “buôn chuyện” với những quyển sách kia, cả chuyện đời tư và chuyện sự nghiệp của giới mỹ thuật. Mỗi người một vẻ, quan niệm độc đáo về nghề, lạ lùng về tính cách và xử sự, bình lặng hoặc lộn xộn về tình duyên. Có những cuộc đời bi thương và đầy ắp sự kiện như Van Gogh, Edvard Munch, nữ họa sĩ Frida Kahlo. Có những cá tính đặc biệt “quái” như Leonardo da Vinci, Jacques-Louis David, Pablo Picasso, Diego Rivera, Salvado Dali, Andy Warhol…

 

 

Còn sót một số lỗi từ ngữ:

 

- Cặp đôi” (trang 18).

 

Thừa chữ. Cặp là hai, mà đôi cũng là hai, cho nên một “cặp đôi” phải hiểu là bốn. Chỉ nên dùng “một cặp vợ chồng”, “một đôi nam nữ”. Nếu muốn dùng từ kép thì có thể viết là “bộ đôi”.

 

- “Nên thay vào đó Leonardo quyết định vẽ trên thạch cao khô, thay vì thạch cao ướt” (trang 37).

 

Đã “thay vào đó” lại còn “thay vì”, làm cho câu thừa thãi, lủng củng.

 

- “Dù có lẽ nó cũng có hiệu quả cũng ngang với trường hợp Durer” (trang 58).

 

Hai chữ “cũng” bộc lộ người dịch đang “bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước”. Ít ra thì biên tập viên cũng nên quyết giúp cho.

 

- “Quân đội Mỹ phát hiện ra bộ sưu tập ở mỏ này, bảo vệ những kiệt tác và phân trả lại cho các bảo tàng cá nhân mà chúng đã bị đánh cắp khỏi” (trang 105).

 

Cái câu Tây An Nam này cần được Việt hóa thêm một tí.

 

- “Tương đương khoảng 28 triệu đô la ngày nay” (trang 106).

 

Hoặc là “tương đương”, hoặc là “khoảng”, không nên ghép đôi theo kiểu khẩu ngữ thế này.

 

- “Một trong những tác phẩm của Rousseau chất đống trong một cửa hàng đồ cũ” (trang 229).

 

“Một” là số ít, cho nên nó không thể “chất đống” được.

 

- “Ở đó họ được mô tả hoặc là ngây thơ yếu đuối hay hoặc như những con ma cà rồng hút hết sự sống” (trang 277).

 

Đã “hay” còn “hoặc” - một sự ngập ngừng lựa chọn nữa của người dịch.

 

- “Con trai Pierre của Matisse phải lòng một trong những nữ sinh của bà cô là giáo viên của ông” (trang 298).

 

Tối nghĩa. “Bà” hay là “cô”, hay là “bà cô”?

 

- “Ông tiếp nhận trường phái Lập thể từ năm 1911, nhưng vào cuối thập kỷ 90, những cuộc tranh cãi với những người cùng trường phái đã khiến ông cảm thấy chua chát về phong trào này” (trang 332).

 

Chính xác là “thập kỷ 90” nào đây? Người dịch chắc muốn để cho người đọc tự đoán.

 

- “Trở thành họa sĩ nổi tiếng thế giới vào đầu những thế kỷ 20” (trang 369).

 

Chắc chắn chỉ có một thế kỷ hai mươi mà thôi.

 

- “Một bức điện tín được gửi tới” (trang 375).

 

Viết “một bức điện” chính xác hơn. “Điện tín” là danh từ chỉ chung một loại hình công việc. Viết “một bức điện tín” cũng không chính xác như khi ai đó viết “một binh lính”, “một đứa trẻ em”…

 

- “Một bản chế bản nhạc hip-hop” (trang 389).

 

“Bản chế” hay “chế bản”?

 

- “Cạo sạch lông dưới cánh tay ông” (trang 405).

 

“Dưới cánh tay” trong tiếng Anh được hiểu là “nách” đấy.

 

- “Đã thu xếp để đặt một chiếc giường bốn cột lớn đặt ở giữa phòng triển lãm” (trang 424).

 

Người dịch lại ngập ngừng không quyết được nên chọn vị trí nào cho chữ “đặt”. Biên tập viên thì dứt khoát không chịu giúp.

 

--- ---

Bí mật cuộc đời các danh họa và điêu khắc gia nổi tiếng, Elizabeth Lunday, Đỗ Tường Linh dịch, Nhã Nam và NXB Thế Giới.