Đọc sách: Tháng 4-2021

Tiểu Luận

Giấc mộng lang thang trên đồng cỏ úa

 

Tác giả Hiền Trang có những ý tưởng sáng tạo gây được bất ngờ cho người đọc. Danh họa Van Gogh sinh thời tự cắt tai trái của mình và người đời lý giải mỗi người một ý. Hiền Trang thì để cho cái màu vàng của căn nhà màu vàng ở Arles kể lại câu chuyện này, một vật tưởng vô tri kể chuyện (Sự thật về cái tai bị cắt của Vincent van Gogh). Rồi có khi tác giả lại nhân một vụ án mạng trong rạp chiếu phim mà để cho các nhân vật khác nhau kể lại theo kiểu Rashomon của Akutagawa: lời kể của nhân chứng hoặc người thân của nạn nhân, thậm chí chính người đã chết cũng tham gia vào cuộc hội thoại, tưởng như làm rối vấn đề nhưng hé lộ những điều có thể là sáng tỏ (Ai đã giết cô gái trong rạp chiếu bóng?) Ở một không gian khác, trong truyện Những người thích trườn, băn khoăn về việc mọi người cứ đi lại trên đường, tác giả đã hình dung ra có những người không thích đi mà thích trườn trên đường phố, vậy thì thế nào nhỉ? Có gì bất bình thường và bình thường trong cách di chuyển như thế?

 

 

Câu chuyện gây ấn tượng trọn vẹn hơn cả là Chuyến xe đi tới Địa phủ. Tác giả hình dung: “Một ngày kia, bỗng nhiên bạn muốn chết, hoặc bạn cảm thấy mình sắp chết, bạn lại chẳng muốn phiền lụy tới ai” (trang 107). Vậy chỉ đơn giản là bắt một chuyến xe buýt đi tới Địa phủ. Nhẹ nhàng đúng như đi một chuyến xe, có dừng lại nghỉ dọc đường, ăn một bữa cuối vui vẻ, mà không phải tìm đến những cách chết đau đớn hoặc xấu xí. A, một gợi ý đầy tính lạc quan cho những người mắc bệnh hiểm nghèo trên hành tinh, vẫn đang kiên trì đấu tranh cho quyền được hỗ trợ để chết êm ái. Trên xe ấy có những câu chuyện vui và buồn, những bài thơ dở và hay, ở trong một hành trình tưởng như không còn mong muốn thì hóa ra vẫn còn. Nhân vật ấy chỉ còn mỗi một việc là khi nào đến Địa phủ, sẽ chuyên tâm dành thời gian để trồng táo, một vườn táo hoặc một rừng táo. Chỉ có một việc ấy thôi. Nhưng xe gần đến Địa phủ mới phát hiện ra rằng đã quên… mang theo hạt táo.

 

Tôi không kể tiếp nữa. Còn phải để dành chỗ cho người đọc tự trải nghiệm và thưởng thức. Bạn hãy tự đọc để tự cảm nhận những ý tưởng sáng tạo của một tác giả trẻ. Hiền Trang mạnh về ý tưởng, cũng mạnh về cách tạo dựng cốt truyện từ những chỗ tưởng như chẳng có gì. Một điểm mạnh đáng kể nữa: không giống phần nhiều các tác giả trẻ (và cả tác giả đã có thâm niên), chỉ chuyên chú vào cốt truyện để kể cho có đầu có cuối, Hiền Trang dụng công nhiều cho văn. Một thứ văn thông minh, chuyển hóa một cách tự nhiên kiến thức và vốn sống và cảm xúc vào trang viết. Chính ở nỗ lực làm mới làm đẹp cho văn mà Hiền Trang đã sớm tạo được cho mình một phong cách riêng và được người đọc chú ý.

 

--- ---

Giấc mộng lang thang trên đồng cỏ úa, tập truyện của Hiền Trang, nxb Trẻ 2018.

 

Vẫy vùng giữa vũng lầy

 

Một vụ việc báo thù ngoạn mục. Một gã chồng lo sợ bị phát giác bí mật chết người nên đã đẩy cô vợ xuống biển trong một đêm vắng đi trên du thuyền. Thật không may cho gã, cô vợ chìm nổi đói khát giữa một vùng biển đầy cá mập nhưng… không chết. Từ đây mới thực sự bắt đầu câu chuyện li kỳ như một vụ án vừa nhiều bí ẩn vừa rất hài hước.  

 

 

Người dịch chủ ý sử dụng đậm đặc phương ngữ Nam Bộ cho tiểu thuyết này, kiểu pha trộn thổ ngữ, tiếng lóng, chơi chữ, nhiều bụi bặm phố phường và phong vị sông nước. Ngôn ngữ dịch này khiến người đọc nhớ đến cách dịch của một bản Cuốn theo chiều gió ở Sài Gòn trước năm 1975. Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, xoay quanh một trang trại miền Nam theo phái chủ trương duy trì chế độ nô lệ. Người dịch để cho bà vú da đen nói giọng địa phương bằng cách sử dụng phương ngữ Nam bộ. Tưởng không có cách dịch nào phù hợp hơn thế. Chỉ qua ngôn ngữ của bà vú mà người đọc Việt Nam hình dung ra không khí ở miền Nam, miền Nam nước Mỹ. Sử dụng phương ngữ cho nhân vật một cách có ý thức, trong trường hợp này là một sự sáng tạo. Sau này tôi có đọc một vài tác phẩm châu Âu dịch ra tiếng Việt, thỉnh thoảng người dịch lại đá vào vài phương ngữ Nam Bộ kiểu “bự chảng”, “gạo cội”, “bắt mắt”, “lật kèo”, “chìm xuồng”, “te tua”, “chích ngừa”, “lai rai chút đỉnh”… Giật mình, phải cẩn thận giở bản đồ nước đó ra xem, biết đâu người dịch đã chủ ý dùng phương ngữ Nam bộ để cho phù hợp với không khí phương Nam ở đất nước người ta. Nhưng rồi đã thất vọng: cái tỉnh ấy ở đất nước ấy không phải ở miền Nam mà hẳn hoi trên miền Bắc.

 

Trở lại với bản dịch Vẫy vùng giữa vũng lầy. Câu chuyện xảy ra ở bang Florida nước Mỹ, nắng gió quanh năm, đúng không khí phía Nam. Và người dịch đã chọn giọng Nam để dịch là lựa chọn phù hợp và lôi cuốn được người đọc.

 

Một vài cách dùng chữ nên được điều chỉnh:

 

- Cô đã cưới một thằng khốn vô dụng (trang 12) - Thật sai lầm khi cưới một thằng oắt con (trang 69) - Cái con lợn tham lam mà cô trót cưới (trang 295) - Người phụ nữ đầu tiên cưới sai chồng (trang 319): chỉ trừ ở một ít đất nước như Ấn Độ, đòi người con gái phải có hồi môn mới lấy được chồng, còn hầu như ở nhiều nơi, dùng từ “cưới chồng” tức là cô gái phải các vàng mới lấy được chồng đấy.

 

- Miệng còn hôi sữa (trang 101): viết đúng phải là miệng còn hơi sữa.

 

- Nó đã kịp bổ sung thêm hai cái cọc (trang 132): thừa chữ “thêm”.

 

- Mặc áo vest xanh (trang 147): việc dùng chữ “vest” lan tràn đang gây phân vân trong tiếng Việt. Chữ áo vét là Việt hóa từ tiếng Pháp “veston”, Việt hóa lâu rồi, hầu như đã đã thành tiếng Việt. Còn viết là “vest” thì không có nghĩa là chiếc áo của bộ com lê, mà nghĩa tiếng Anh lại là áo gi lê, hoặc áo may ô, hoặc áo cứu sinh trên tàu bè.

 

- Rõ ràng không phải là tuýp Mạnh Thường Quân (trang 245): chính xác phải dùng từ típ, tức Việt hóa từ chữ type [taip] của tiếng Anh có nghĩa là kiểu/ loại. Còn tuýp là Việt hóa từ chữ tube [tjub] của tiếng Anh, nghĩa là cái ống/ cái khối hình trụ - như trong chữ đèn ống tuýp, quần ống tuýp.

 

- Corbett cất cao giọng nói to để át tiếng cánh quạt (trang 294): cao giọng ngược với thấp giọng/ hạ giọng. Nói to ngược với nói nhỏ/ nói khẽ. Vậy câu này chỉ cần dùng một trong hai cụm từ “cất cao giọng” hoặc “nói to”.

 

--- ---

Vẫy vùng giữa vũng lầy, tiểu thuyết của Carl Hiaasen, Bình Bồng Bột dịch, Tao Đàn và nxb Hội Nhà Văn 2021.

 

Pedro Páramo

 

Một anh chàng đi qua cái làng nọ, ghé vào nghỉ nhờ, nói chuyện với một bà lão. Kể chuyện về địa chủ Pedro Páramo, chuyện về người này người khác, chuyện trò mãi thì hóa ra cả người kể chuyện lẫn những người được nhắc đều đã chết. Cái làng ấy cũng là làng bỏ không, chẳng còn ai sống ở đấy. Toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối là đối thoại giữa những người đã chết, những câu chuyện về những người tưởng như đang sống nhưng thực ra đã chết.

 

 

Đường dây câu chuyện bị cắt xẻ nhiều lần nên không dễ phân định rạch ròi. Không tuân theo trật tự thời gian, không tuyến tính, thậm chí không logic về không gian, không phân định âm dương, người sống trộn lẫn người chết.

 

Tác giả Juan Ruflo có thể là một trong những người khởi đầu cho phương pháp hiện thực kỳ ảo Mỹ La tinh (magical realism), nhưng là khởi đầu cho nên chưa đủ độ đậm đặc và sắc nét.

 

Lời giới thiệu của Nguyễn Trung Đức có thể được viết từ trước đổi mới 1986. Ngay cả viết sau đó thì vẫn chưa phai nhạt tinh thần phê bình theo kiểu hiện thực xã hội chủ nghĩa, cho nên người dịch đã xoáy sâu vào vấn đề giai cấp, giàu nghèo, và nhấn mạnh vấn đề khởi nghĩa nông dân. Còn người đọc ngày nay, thưởng thức hồn nhiên, và không cần đọc lời giới thiệu, thì tiếp nhận tiểu thuyết này mà có khi chẳng cần nghĩ đến vấn đề đấu tranh giai cấp và khởi nghĩa nông dân. Thực ra ấn tượng đấu tranh chống áp bức ấy không sâu đậm như người dịch muốn ấn cho người đọc.

 

Giây phút này

 

Anh chàng nhân vật chính bỗng nhiên biến mất, mỗi năm chỉ trở lại một ngày, trong vòng 24 năm, từ 1991 đến 2015. Mỗi lần trở lại là rơi vào một tình huống trớ trêu, gay cấn, hoặc bi đát lâm li.

 

 

Bên dưới tầng hầm ngọn hải đăng cũ có một căn hầm bí ẩn, một cái cửa đã bị xây bít lại, ở đó có một lời nguyền ứng vào người nào dám phá vỡ cái cửa bị bít lại và bước vào.

 

Motif hay và cuốn hút. Nhưng cuốn này quá nhẹ cân so với các truyện khác của Musso. Dòng ngôn ngữ cũng ít thông tin khiến người ta có thể đọc lướt.

 

--- ---

- Pedro Páramo, tiểu thuyết của Juan Ruflo, Nguyễn Trung Đức dịch, PhanBook và Hội Nhà Văn 2019.

- Giây phút này, Guillaume Musso, Phúc Chi Nhi dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn, tái bản 2018.

 

Lò sát sinh số 5

 

Một người lính Mỹ, tham chiến từ Chiến tranh thế giới II ở Dresden, Đức, lại nghĩ ngợi khi chiến tranh Việt Nam đang ở thời điểm nóng nhất: 1968. Ông ta khẳng định mình đã bị bắt cóc sang một hành tinh khác rồi lại được trở về. Trong tình trạng tâm thần như vậy, tâm tưởng ông ta trôi dạt vô định, lúc trong chiến tranh ở Đức, lúc thì nước Mỹ, lúc ở hiện tại, lúc thời niên thiếu và thanh niên…

 

 

Đề tài khó đọc đối với nhiều người ngay từ khi sách ra đời, 1969, và cho cả hiện nay. Nhưng tác giả đã phân mảnh thành những đoạn ngắn, tạo cảm giác dễ đọc và dành nhiều chỗ nghỉ cho người đọc ngẫm nghĩ.

 

Bản dịch nên được biên tập tốt hơn để bỏ bớt những phương ngữ vùng miền.

 

Người đàn ông đến từ Bắc Kinh

 

Một xóm nhỏ ở Thụy Điển năm 2006, mười chín người của mấy gia đình trong xóm bị giết. Bắt đầu bằng một vụ án, câu chuyện mở dần ra thành chuyện quá khứ, năm 1863, ba anh em người Hoa bị bắt cóc đưa sang Mỹ làm công nhân xây dựng đường sắt.

 

 

Mượn chuyện vụ án, điểm chốt lại là ở tham vọng thực dân mới của Trung Quốc. Cuộc đấu tranh gay gắt giữa thế lực bảo thủ muốn xây dựng một đất nước công bằng, vì con người, với phía bên kia là thế lực tài phiệt mới phất, tham vọng, tàn ác, muốn hướng sang khai thác thuộc địa mới ở châu Phi và trên toàn thế giới. Để đạt được mục đích, chúng sẵn sàng tàn sát bất cứ ai, kể cả người ruột thịt, sẵn sàng quay về trả thù cho quá khứ.

 

Henning Mankell là trùm truyện trinh thám của Thụy Điển. Người mê truyện trinh thám nhiều hành động có thể không hợp với sách của ông – câu chuyện thường diễn tiến chậm, dễ làm người đọc mệt, chẳng hạn cuốn Tường lửa. Riêng Người đàn ông đến từ Bắc Kinh nhờ phơi lộ chính sách thực dân mới của Trung Quốc nên có sức hút đối với người đọc.

 

--- ---

- Lò sát sinh số 5, Kurt Vonnegut, Quân Khuê dịch, Nhã Nam và NXB Hà Nội 2019.

- Người đàn ông đến từ Bắc Kinh, Henning Mankell, Nguyễn Minh Châu dịch, Nhã Nam và Hội Nhà Văn.

 

Những bức chân dung Phạm Xuân Ẩn

 

1. Tên trong tiếng Anh là The Spy Who Loves Us (Điệp viên yêu mến chúng ta – tức nước Mỹ). Cuốn sách Điệp viên Z21 – kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ gần với thể loại chân dung văn chương (literary biography), dựng lại tương đối trọn vẹn chân dung của điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Cuộc đời và sự nghiệp tình báo – cuộc đời một người yêu nước, chiến đấu thầm lặng cho đất nước mình, đồng thời yêu mến nước Mỹ là đất nước đào tạo nghề báo cho ông, bồi đắp cho ông tư tưởng dân chủ và tự do. Sự nghiệp của ông cũng phân làm hai: chiến sĩ đấu tranh vì độc lập tự do trong vị trí nhà tình báo chiến lược, đồng thời là nhà báo tinh tường sắc sảo với thái độ phản ảnh khách quan. Ông được tổ quốc ghi nhận công lao, đồng thời phía đối phương khi biết ra sự thật vẫn trân trọng và đánh giá cao tinh thần yêu nước và lòng trung thành của một công dân đối với đất nước mình.

 

 

2. Cuốn Điệp viên Z21 sinh động khi vẽ chân dung một con người. Còn Điệp viên hoàn hảo của Larry Berman thành công trong việc tổng hợp tư liệu về công việc làm báo và hoạt động tình báo của Phạm Xuân Ẩn.

 

 

3. Nhà báo Pháp Jean-Claude Pomonti, tác giả của Một người Việt trầm lặng, quen biết Phạm Xuân Ẩn từ thời chiến tranh, khi ông là phóng viên của báo Le Monde ở Sài Gòn, còn Phạm Xuân Ẩn làm cho hãng Reuteurs và Time. Sau chiến tranh, Pomonti gặp lại Phạm Xuân Ẩn nhiều lần để trực tiếp lấy tài liệu viết quyển sách này. Tư liệu và cảm xúc đều ít hơn cuốn Điệp viên hoàn hảoĐiệp viên Z21 của hai tác giả Mỹ.

 

Trong tiểu thuyết Thời gian của người, nhà văn Nguyễn Khải dẫn lại chi tiết chính ông nhà báo Pomonti này cùng với một số nhà báo nước ngoài ở Sài Gòn đã bị CIA lừa, đã cho đăng trên trang nhất của báo mình tin có đảo chính nội bộ của “Việt cộng”. Họ được dẫn vào “vùng giải phóng”, được “người của Mặt trận” thông tin hẳn hoi trong một cuộc họp báo, hóa ra là màn kịch do CIA dàn dựng để chơi xỏ cánh nhà báo nước ngoài.

 

 

--- ---

- Điệp viên Z21 – kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ, Thomas A. Bass, Đỗ Tuấn Kiệt dịch, Nhã Nam và NXB Hồng Đức.

- Điệp viên hoàn hảo, Larry Berman, Đỗ Hùng dịch, NXB Hồng Đức.

- Một người Việt trầm lặng, Jean-Claude Pomonti, Nguyễn Văn Sự dịch, NXB Tri Thức.