Đọc sách: Tháng 10-2021

Tiểu Luận

Xúc động trên từng trang

 

Đọc hồi ký Gánh gánh… gồng gồng… của Xuân Phượng, một người đọc khó tính chắc vẫn bị thuyết phục. Một người đọc giỏi kiềm chế, chắc vẫn phải dừng lại từng trang vì xúc động.

 

Một lão bà chín mươi tuổi ngồi viết lại truyện đời mình. Một cuộc đời thật nhiều khúc ngoặt, thật nhiều biến cố, li kỳ hơn tiểu thuyết, hấp dẫn hơn tiểu thuyết. Những sự kiện có thật, những con người có thật bảo chứng cho nó, kích ứng những ký ức tương tự ở người đọc.

 

 

Cô học sinh trường Pháp ở Đà Lạt, mười sáu tuổi về Huế bỏ nhà đi theo kháng chiến. Ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 12-1946, cô gái mười bảy tuổi đột nhập vào trường Kỹ thuật thực hành Huế, đưa lệnh của bộ chỉ huy mặt trận Huế cho phép bộ đội rút lui. Cùng đồng đội nhảy qua hàng rào, cô thoát được, nhưng người bạn cùng đi trúng đạn giặc Pháp, xác vắt qua hàng rào. Năm 1947 cô đi bộ xuyên rừng từ Huế ra Nghệ An, tham gia đoàn tuyên truyền liên khu Bốn. Thiếu nữ kháng chiến trải qua nhiều công tác: ở quân y vụ liên khu Bốn, chuyển về  bộ Quốc phòng làm thuốc nổ, vài lần gặp tai nạn nổ tung cả xưởng. Rồi cô chuyển sang làm báo Công tác thóc gạo của bộ Tài chính. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, cô về Hà Nội, đi học y rồi phụ trách phòng khám nhi khu Ba Đình. Từng thuyết minh trực tiếp phim tiếng Pháp, chuyển sang làm bác sĩ cho ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài, đi chăm sóc các nhà làm phim phương Tây vào tuyến lửa Vĩnh Linh quay phim dưới bom đạn. Sau chuyến đi ấy, đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens từng đoạt giải ở liên hoan phim Venice gợi ý Xuân Phượng nên chuyển sang làm phim. Bốn mươi tuổi, bà mới bắt đầu sự nghiệp làm phim tài liệu với nhiều phim đoạt giải thưởng quốc tế. Năm 1975, bà là phóng viên chiến trường, theo sát từng bước chiến dịch Hồ Chí Minh, đi quay phim suốt từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào đến Sài Gòn. Sau khi về hưu, bà mở phòng tranh, đi lại như con thoi sang các nước phương Tây để triển lãm mỹ thuật Việt Nam. Bà trở thành một nhà ngoại giao nhân dân năng động, ngay cả khi tuổi đã cao.

 

Ngay đầu sách là một khoảnh khắc thay đổi số phận. Cô nữ sinh mười sáu tuổi cùng một người cậu trốn nhà đi theo kháng chiến. Dắt xe đạp ra bến sông, người cậu nhớ ra để quên chiếc bơm xe, quay lại lấy. Đúng lúc giặc Pháp càn đến. Xuân Phượng vứt xe, nhảy xuống đò chạy luôn. Thế là cả nhà chỉ có một mình cô đi kháng chiến. Ông cậu sau đó sang Pháp học để trốn lính. Hơn bốn mươi năm sau, Xuân Phượng mới gặp lại ông trong một nhà dưỡng lão ở Pháp.

 

Một chi tiết gây ấn tượng: năm 1954, nghe tin chiến thắng Điện Biên Phủ, Xuân Phượng trên lưng địu con nhỏ, vai gánh một đầu là đứa con lớn, một đầu là mấy con gà và xoong nồi, một mình đi bộ từ An toàn khu Tuyên Quang về Hà Nội. Có lúc nặng quá, chị bỏ quang gánh, địu đứa nhỏ đến gửi ở một quán bên đường rồi quay lại gánh đứa lớn đến. Cứ luân chuyển như thế qua mấy trăm cây số. Về gần đến Hà Nội thì đói lả ngất đi trước một ngôi chùa. Có một bà tư sản Hàng Ngang tưởng đấy là ba mẹ con ăn mày, bà thương xót đưa lên xe hơi chở về Hà Nội. Có người chiến thắng về Hà Nội trong cờ hoa. Có người chiến thắng về Hà Nội trong hoàn cảnh như chị. Một ẩn dụ về vô vàn cách thức mà những người chiến thắng đến với hòa bình. Với Xuân Phượng, chuyến đi ấy cho bà thêm bài học về tình thương và trong suốt cuộc đời, bà thực hành lòng nhân ái với bất cứ số phận thua thiệt nào gặp trên đường. Bà cưu mang thiếu sinh quân bị lạc đơn vị trong kháng chiến, đưa hàng xóm đi đẻ ban đêm, đỡ đẻ cho người sinh khó trong địa đạo Vĩnh Linh không đèn đóm. Gia đình ấy đã xin tên Xuân Phượng để đặt cho cháu bé vừa ra đời.

 

Xúc động trên từng trang. Chẳng hạn năm 1967 Xuân Phượng dẫn đạo diễn Hà Lan đi quay phim chú bé chín tuổi Phạm Công Đức ở Vĩnh Linh. Em Đức được phong dũng sĩ diệt Mỹ vì có công giúp bộ đội ta đánh phá sân bay giặc bên bờ Nam sông Bến Hải. Bốn mươi năm sau, bà quay lại nơi đó làm phim, tìm kiếm mãi, cuối cùng gặp được thầy giáo dạy toán cấp ba Phạm Công Đức. Trong sách có bức ảnh chú bé Đức chín tuổi năm 1967 và ảnh bà đến thăm gia đình thầy giáo Đức giờ có bốn con năm 2007.

 

Có cả kỷ niệm với ngôi sao điện ảnh Jane Fonda và ca sĩ Joan Baez thời chiến ở Hà Nội. Dưới căn hầm bị bom giật đùng đùng, Xuân Phượng đã bảo Joan Baez hát lên, ca sĩ Mỹ đã hát và lấy lại bình tĩnh. Có cả chuyện tình cờ tìm được cô bạn học người Pháp thời ở Đà Lạt, gặp lại nhau khi hai người đều trên tuổi tám mươi, trong ảnh cả hai tóc bạc trắng.

 

Hơn bốn mươi năm xa cách, năm 1989 Xuân Phượng gặp lại mẹ ở Paris. Bà mẹ tuổi ngoài tám mươi bay từ Mỹ sang gặp cô con gái đã sáu mươi. “Mấy mẹ con dắt nhau ra chỗ chờ xe. Đang đi, trước mặt có một cái ụ, má nắm chặt tay tôi: “Coi chừng vấp, con!” Má tôi chưa kịp nhận ra rằng tôi không còn là đứa bé mười sáu tuổi của bà”.

 

Một người con gái như Xuân Phượng khó mà vấp ngã được.

 

Tác giả kể tiếp: “Chúng tôi cười cười khóc khóc trong niềm vui đoàn viên. Trong một bữa cơm trưa, bỗng mẹ tôi chống đũa nhìn tôi: “Con ơi, sao con theo họ làm chi, để gia đình ly tán, phải rời quê cha đất tổ con ơi!”… Tôi không trả lời mẹ ngay hôm ấy, nhưng cũng từ đấy nảy ra ý định phải kể lại đời mình.

 

Tôi mong muốn gia đình thương yêu hiểu rõ thêm những gì tôi đã trải qua.

 

Và cũng vì những người trẻ chưa hề biết đến chiến tranh, tôi quyết định viết lại ĐỜI TÔI”.

 

Xuân Phượng đã viết, trước hết là một quyển hồi ký bằng tiếng Pháp: Ao dai, xuất bản tại Paris, rồi được dịch ra tiếng Anh, tiếng Ba Lan.

 

Còn bây giờ người phụ nữ sinh năm 1929 viết lại cuốn hồi ký ấy bằng tiếng Việt. Năng động và đầy nhiệt huyết, bà luôn là một nhà cách mạng đúng nghĩa. Ngôn ngữ cuốn sách sáng rõ, có khi dí dỏm, và thường xuyên khơi gợi cảm xúc. Sắp xếp tư liệu một cách khoa học, mạch lạc, thể hiện một tư duy tinh tường, ngăn nắp. Đọc cuốn sách này, người ta được tiếp thêm năng lượng, thêm khao khát suy tư và hành động.

 

--- ---

Gánh gánh… gồng gồng…, hồi ký của Xuân Phượng, NXB Văn hóa - Văn nghệ 2020, Nhà xuất bản tổng hợp tp. HCM 2021.

 

Đối chiếu hư cấu và lịch sử

 

Vợ của Đức Phật là sự tiểu thuyết hóa câu chuyện về Yasodhara, vợ của Phật, sinh con được hai ngày thì chồng bỏ đi tìm kiếm chân lý. Nàng ở trong tâm trạng hổ thẹn vì bị chồng ruồng bỏ. Về sau nàng gia nhập giáo đoàn ni sư, tu tập và thành chính quả. Câu chuyện trong tiểu thuyết xảy ra sau khi Phật đã mất một thời gian, người vợ nay đã già, bắt đầu ốm đau trầm trọng và kết thúc khi bà mất.

 

Tác giả hoàn toàn có thể sử dụng quyền tối cao của một nhà văn là hư cấu. Khi đọc tiểu thuyết, bất cứ người đọc nào cũng hiểu như vậy. Dù sao cũng nên đối chiếu một chút để nhận ra đâu là phần hư cấu và đâu là thực tế lịch sử:

 

Yasodhara: tâm lý đau khổ vì bị ruồng bỏ, hổ thẹn triền miên, cay đắng cho đến cuối đời. Nhưng sử sách chỉ ghi lại việc bà tự nguyện xuất gia tu hành. Bà cùng cánh phụ nữ trong hoàng cung phải thuyết phục mãi mới được Phật chấp nhận cho lập giáo đoàn sư nữ.

 

Rahula: căm ghét cha mình dù ông đã thành bậc thầy giác ngộ, mãi đến khi mẹ mất mới giải tỏa chút ít. Rahula trong tiểu thuyết có vợ con là người nam Ấn, vợ con hiểu rất ít ngôn ngữ bắc Ấn. Trong sử sách thì Rahula về sau cũng xuất gia, thành một nhà sư bình thường về trí tuệ, không có vợ con.

 

Devadatta: anh ruột của công chúa Yasodhara, có vợ con, thấy em rể bỏ đi tìm chân lý thì xót xa cho em gái, thành ra căm ghét Phật, mãi cho đến khi em gái sắp qua đời mới giải tỏa phần nào. Trong thực tế, Devadatta có xuất gia theo Phật, không có gia đình, dù đã đi tu nhưng suốt đời ghen ghét và tìm cách hãm hại Phật.

 

Ananda: em họ Phật, nhà sư cao trọng. Sau khi Phật đã nhập diệt, Ananda chăm sóc cho chị dâu lâm bệnh và thể hiện tình cảm quá gần gũi với bà ở phút cuối đời của bà. Thực tế thì Ananda là bậc thầy ghi nhớ và giảng lại những điều Phật dạy, không xao lãng sang tình cảm yêu đương.

 

Một vài chi tiết cần chỉnh sửa:

 

- Sau khi Phật đã giác ngộ, tác giả vẫn gọi Phật là Siddhartha (trang 15) là không chính xác. Siddhartha là tên chào đời của Phật. Còn khi Người đã đắc đạo, người ta gọi Phật là Thế Tôn, Như Lai, Đấng Giác Ngộ, hiền triết ở Kasi hoặc hiền triết bộ tộc Thích Ca (Sakya Muni)…

 

- “Ông giữ kín phía sau vẻ khiêm nhường của mình nguồn gốc Bà La Môn cao quý, hoàng tử của tiểu quốc Sakya” (trang 82).

 

Thực ra đã là hoàng tử thì thuộc về dõng dõi nhà vua, mà vua chúa thuộc đẳng cấp tướng lĩnh Ksatriya, không phải là đẳng cấp Bà La Môn chuyên làm giáo sĩ thời bấy giờ. Đây cũng là sai sót của tác giả.

 

- “Savarna quỳ chân cúi đầu chào” (trang 133).

 

Viết cụ thể quá thành ra tức cười: quỳ chắc chắn là quỳ bằng chân, cụ thể là bằng đầu gối, không thể quỳ bằng tay được.

 

--- ---

Vợ của Đức Phật, Gabriel Constans, Nguyễn Ngoan dịch, Đông Tây và NXB Phụ Nữ.

 

Cuộc truy tầm kho vũ khí

 

Chuyện từ thời chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Ta và địch đều biết về một kho vũ khí ở trong rừng sâu. Kho vũ khí ấy rất giá trị khi mà ta đang thiếu vũ khí trong cuộc chiến tranh ác liệt. Phía địch không hẳn đã cần kho vũ khí ấy mà mục đích của chúng là phá hủy để vũ khí không rơi vào tay quân ta. Một tiểu đội của ta được phái đi để tìm lại kho vũ khí, cùng lúc một trung đội địch do một sĩ quan Pháp cầm đầu cũng luồn rừng theo sát. Một cuộc đuổi bắt li kỳ trong rừng, càng quyết liệt và gay gắt khi bên địch có thêm mấy kẻ phản bội chỉ đường, còn người dẫn đường của ta lại rơi vào tay địch.

 

 

Cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1962 và được dịch sang một số ngôn ngữ Đông Âu. Nhà văn Đoàn Giỏi khi ấy đã quá nổi tiếng với Đất rừng phương Nam lại được chào đón nồng nhiệt ở cuốn sách gay cấn này. Tôi đọc lần đầu vào khoảng đầu những năm 1970. Trong thời gian chiến tranh, cuốn sách là nguồn cảm hứng cho các em thiếu nhi về tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường chống ngoại xâm. Giờ đọc lại, vẫn thấy hấp dẫn, đặc biệt xúc động trước sự trung thành và bền chí của một chiến sĩ nhiều năm đứt liên lạc với đơn vị vẫn sống một mình giữa rừng sâu.

 

Vầng trăng quên lãng

 

Đây là cuốn thứ bảy của họa sĩ người Đài Loan Jimmy Liao được dịch in ở Việt Nam. Cuốn đầu tiên tôi đọc của ông là Hòn đá xanh, đọc và xem tranh xong thì phải đi tìm cho đủ mấy cuốn kia để xem tiếp: Nàng rẽ trái, chàng rẽ phải (đã dựng thành phim với ngôi sao Kim Thành Vũ - Takeshi Kaneshiro), Đêm thẳm trời sao, Ôi tình yêu, Âm thanh của sắc màu, Nụ hôn từ biệt... Ba cuốn đầu tiên do Nguyễn Lệ Chi dịch từ tiếng Trung Quốc, sau đó Hoàng Phương Thúy dịch thêm ba cuốn, Phiêu dịch một cuốn, và người xem vẫn chờ những cuốn sách khác được dịch tiếp.

 

Những câu chuyện thật hồn nhiên và lãng mạn, nói là truyện thì chưa đủ mà những bức tranh mới là chính và bổ sung rất nhiều chi tiết cho truyện. Tranh như một thế giới của mơ mộng dựa trên cái nền hiện thực, thậm chí phố phường hiện đại vẫn đầy chất thần tiên.

 

 

Chỉ vài cuốn sách như vậy thôi, Jimmy Liao đã tự chứng minh là họa sĩ hàng đầu của truyện tranh trong một thế giới có quá nhiều họa sĩ, quá nhiều người viết truyện để làm tranh và quá nhiều truyện tranh.

 

--- ---

- Cuộc truy tầm kho vũ khí, Đoàn Giỏi, NXB Kim Đồng tái bản.

- Vầng trăng quên lãng, truyện tranh của Jimmy Liao, NXB Kim Đồng.

 

Hai cuốn sách của Woody Ellen

 

Tác giả thể hiện một quan niệm khác về tiểu luận, khi trong đó có pha trộn cả truyện ngắn, kịch, tùy bút. Tất nhiên yếu tố luận đề vẫn có trong những tiểu phẩm gọi là kịch và truyện hoặc tùy bút ấy. Văn đặc biệt hài hước, những phép so sánh và liên tưởng cực kỳ táo bạo và bất ngờ, tạo ra sự thú vị cho người đọc.

 

 

Một sự thú vị nữa: sự nghiệp chính của Woody Allen là nghệ thuật điện ảnh. Ông viết kịch bản phim, làm diễn viên, làm đạo diễn và đã bốn lần đoạt giải Oscar cùng giải Quả Cầu Vàng và giải thưởng của Viện hàn lâm điện ảnh Anh. Những bộ phim chính của ông thường đan xen giữa hiện thực và yếu tố kỷ ảo, bộc lộ một trí tưởng tượng mạnh mẽ: Bông hồng tím ở Cairo, Paris lúc nửa đêm, Một ngày mưa ở New York, Hoa nhài xanh… Trong đó Paris lúc nửa đêm tưởng tượng ra câu chuyện một nhà văn trẻ thời nay đến Paris, cứ lúc nửa đêm thì có một chuyến xe cổ đón anh ta đến nơi tụ tập của các văn nghệ sĩ. Ở đó, anh ta gặp những nhà văn lớn từ thời trước: Hemingway tác giả Chuông nguyện hồn ai, Fitzgerald tác giả Đại gia Gatsby, họa sĩ Picasso và các nhà phê bình của một thời. Những nghệ sĩ kỳ cựu này tâm sự với anh ta nhiều chuyện đời chuyện nghề, thậm chí còn đọc giúp bản thảo mới và góp ý cho anh ta. Nhà văn trẻ cứ thế sống cuộc sống ban ngày đi du lịch Paris rồi ban đêm lại đến với không khí văn chương của thời đại trước.

 

--- ---

Lộn tùng phèo (Đăng Thư dịch), Tuyệt vọng lời (Trần Quốc Tân dịch), hai tập tiểu luận của Woody Allen, Tao Đàn và NXB Hội Nhà văn.

 

Những tình huống lạ

 

Cuốn sổ màu xanh xuất bản từ nhiều năm trước, bây giờ đọc lại vẫn nguyên vẹn cảm xúc ban đầu. Càng thêm ý nghĩa khi cùng ngắm lại bìa sách do danh họa Bùi Xuân Phái vẽ từ năm 1987.

 

Bản dịch Cuốn sổ màu xanh ấn hành hồi đó khiến cho giới mê văn chương ở Việt Nam xôn xao, truyền tin cho nhau tìm đọc. Đó là một tập hợp những câu chuyện kỳ ảo, hấp dẫn. Hài hước, những tình huống lạ luôn lôi cuốn người đọc, và cách giải quyết rất thông minh. Henri Troyat (1911-2007) là nhà văn Pháp gốc Nga, một phong cách văn chương độc đáo thừa hưởng từ hai nền văn hóa lớn.

 

Ở đây xin kể vắn tắt tình huống mà không tiết lộ kết cục để người đọc có dịp thì thưởng thức trọn vẹn:

 

Cuốn sổ màu xanh: nhặt được một cuốn sổ màu xanh, bên trong có 4.000 franc. Trên báo đăng người mất sổ sẽ trả 10.000, rồi 15.000 cho ai nhặt được và đem trả. Người nhặt đã tiêu mất tiền, dùng dằng mãi, lại lo rơi vào bẫy của người mất. Ông ta không còn tâm trí đâu mà giải quyết việc vợ, con gái, con trai dần dần sa đọa, không còn trong vòng quản lý của ông nữa. Rồi số tiền thưởng lại hạ dần xuống, cho đến khi chỉ còn đúng 4.000 là số tiền bị mất…

 

Sóng dội lại: anh chàng đã chán cô nàng, chuẩn bị đề nghị chia tay thì đúng lúc cô nàng bảo đã có người khác và muốn cắt đứt. Sau đó mọi người trong công sở đồn đại là anh chàng bị cô ta đá nên thất tình. Khi anh ta bị tai nạn thì cô ta và mọi người lại tin là anh ta định tự tử…

 

Vinh quang: nữ văn sĩ bị chồng bắt được đang ngồi ở nhà cùng nhân tình (chính là thư ký của chồng). Bà ta phải vội ứng biến rằng anh bạn kia cũng là nhà văn trẻ, đang muốn nghe ý kiến về tác phẩm mới viết. Để chứng thực, bà ta bắt anh kia phải viết tiểu thuyết và bà ta viết lời giới thiệu khi nó được in. Cuốn sách bị chê tơi bời khiến bà ta cảm thấy bẽ mặt vì đã giới thiệu, rồi bắt anh kia viết cuốn khác để phục hồi danh dự cho bà ta. Không ngờ cuốn này lại được giải thưởng trong khi chính bà ta từ lâu đã mong mỏi được giải thưởng đó. Kết cục vừa lạ vừa rất logic…

 

Tầm mắt không bị che khuất: ông chánh văn phòng bộ Di dân, chán ngán công việc tẻ nhạt, chán ngán hàng xóm ồn ào lộn xộn, quyết định xây một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, được sống biệt lập. Nhưng ngay cả ở chỗ đó thỉnh thoảng cũng có kẻ lẻn vào, lấy làm chỗ ăn nghỉ…

 

Người khách hàng tốt nhất: một ông già đặt mua những vòng hoa viếng một người đàn ông vừa chết, với những dải băng ghi lời viếng khác nhau của anh chị em cô dì chú bác con cháu, như thể cả đại gia đình mỗi người gửi một vòng hoa đến viếng…

 

Cử chỉ của Evơ: công nhân đình công, ông chủ phải đi tàu điện, và ông có cảm tình với cô bấm vé tàu điện đến mức ngày nào cũng đi. Cho đến khi chính bến tàu điện cũng đình công và cô gái biến mất…

 

 

Đôi bàn tay: cô gái làm ở hiệu sửa móng, gặp phải một người khách có móng tay quá dày, cứ vài ngày móng tay ông ta lại mọc dài, phải đến sửa…

 

Ông con trời: thỏa thuận với người chủ dịch vụ đám ma, nhận của ông ta một số tiền để tiêu cho gia đình nghèo, đồng ý viết di chúc là sau khi mình chết, sẽ để ông chủ dịch vụ lo tang ma, và chi phí do người anh trai chịu. Vậy là ông chủ đám ma ngày nào cũng hỏi thăm sức khỏe, và cái ông chưa chết cứ thấy mình có lỗi…

 

Bức chân dung: họa sĩ vẽ ai cũng đúng ra thần thái của người ấy, khiến cho những người bị vẽ rất lo sợ và căm tức. Cho đến khi ông ta vẽ vợ mình, bao nhiêu xấu xa ẩn giấu đều phát lộ, gây phản ứng dữ dội. Rồi tính cách bà vợ thay đổi theo năm tháng, và ông họa sĩ đều vẽ ra được…

 

Tập truyện này in năm 1987, gây dư luận về một lối viết mới lạ và có ảnh hưởng nhất định đến giới văn chương Việt Nam. Chẳng hạn, sau đó vài năm, truyện ngắn Chân dung của nhà văn Nguyễn Quang Thân cũng sử dụng motif tương tự.

 

--- ---

Cuốn sổ màu xanh, tập truyện ngắn của Henri Troyat, Phạm Thủy Ba dịch, NXB Tác Phẩm Mới.