Đi đọc sách ở Đức

Chia Sẻ

Những ấn tượng ban đầu

 

Ở Nürnberg, thành phố có tòa án xử tội phạm Chiến tranh Thế giới thứ hai, vé dự buổi đọc sách là 8 EUR. Nghe xong tôi sợ quá. Đọc sách mà bán vé ư? Ai đến nghe. Nhưng rất lạ. Buổi tối mưa lất phất. Lạnh một cách thấm thía dìu dịu. Vào tháng 11 năm nay (2017) thời tiết ở Đức khác mọi năm. Ngồi ăn sáng trong nhà Marianne Ngô, nhìn ra vườn bà than phiền: không có mùa thu. Hoa không nở được… Trời lạnh nhưng độc giả đến nghe đọc sách gồm 50 người, ai cũng mua vé 8 EUR. Giống như các điểm đọc sách ở thành phố khác, độc giả hầu hết ở tuổi trung niên, hoặc cao tuổi. Bà Marianne bảo: ở Đức bây giờ thanh niên cũng ít đọc sách.

 

Nhà văn Lê Minh Khuê và cô phiên dịch Aurora

 

8 EUR đã sợ. Đến Hamburg, thành phố công nghiệp đồ sộ, vé vào cửa là 14 EUR. Đến 17 giờ, người soát vé đứng ở cửa và người nghe lần lượt đi vào, trật tự nghiêm túc. Một lúc đã thấy đông, gần kín các hàng ghế. Nhẩm tính có khoảng 70 người. Có nhiều khuôn mặt trẻ. Có ba khuôn mặt trẻ người châu Á nhưng chắc không phải người Việt.

 

Buổi đọc sách ở Hamburg thật ấn tượng vì cuốn Nhiệt đới gió mùa in ở nhà xuất bản Argument, một nhà xuất bản có khuynh hướng chính trị. Đọc sách xong, thấy người ta mua sách tấp nập. Nhiều người xin chữ ký. Có một người độ tuổi trên bốn mươi in ba cái ảnh của tôi từ trên mạng, in to, giấy tốt, chuẩn bị cả một cái bút để ký vào như ảnh của các cầu thủ. Ba cái ảnh loại xấu gần bằng người ở ngoài nhưng anh ta bảo ảnh đẹp lắm. Thế mới khổ! Có một cô giáo nói cô ấy đã giảng cho học sinh của cô truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi trong tập sách đã dịch in, tập Những bi kịch nhỏ, nhà xuất bản Mitteldeutscher, và học sinh của cô rất thích, rất tò mò về chiến tranh Việt Nam.

 

Ông Wonfgang Repp, bà Marianne Ngô, nhà văn Lê Minh Khuê, ông Gunter Giesenfeld

 

Ở Hamburg, được làm thượng khách của thành phố. Đoàn có bốn người, họ cho hai chiếc xe sang trọng đến khách sạn đón. Hai chàng lái xe đẹp trai, một người đã đến Sài Gòn, rất thích. Chỉ có điều không ưa là Việt Nam sao để nhiều rác thế?

 

Khách sạn ở Hamburg thật phí phạm. Một người mà ở phòng đôi, lộng lẫy như một cung điện nhỏ. Mình tận hưởng nhạc cổ điển phát ra nhẹ nhàng từ chiếc loa nhỏ. Nước nóng,  giường êm. Phòng rộng… Tự hỏi vì sao lại được ưu ái thế?

 

Ở buổi đọc sách, các biên tập viên cuốn Nhiệt đới gió mùa hỏi sao trong câu chuyện lại có nhiều bạo lực, nhiều chết chóc? Bảo với họ ẩn dụ của câu chuyện là cuộc chiến tranh Nam Bắc ở Việt Nam. Họ gật gù. Buổi đọc sách ở Hamburg làm cho cả ông Günter Giesenfeld, người thiết kế chuyến đi Đức của tôi cũng phải thốt lên: Cô là quý giá lắm đấy! Ông ấy còn bảo giá như cô mặc áo dài.

 

Tập truyện ngắn Những bi kịch nhỏ do ông Günter Giesenfeld và bà Marianne Ngô dịch in năm 2011. Cuốn Nhiệt đới gió mùa cũng do hai ông bà dịch và in năm 2017. Hai cuốn sách ở hai thành phố xa nhau.

 

Ký lưu niệm cho cô giáo ở Hamberg

 

Sách in cần được giới thiệu rộng rãi và họ mời tác giả từ năm 2016. Vướng nhiều chuyện gia đình, năm 2017 tôi mới thực hiện chuyến đi. Suốt một năm, Hội Hữu nghị Đức - Việt đã chuẩn bị cho tôi một danh sách các thành phố tôi cần đến. Bắt đầu là Marburg. Đến Offenbach – đến Halle – đến Leipzig – đến Regensburg – đến Sulzbach-Rosenberg – đến Nürnberg - đến Hamburg, cuối cùng là thành phố Düsseldorf… Điểm đọc sách có thể là ở thư viện, hiệu sách, hoặc trung tâm văn hóa. Marianne Ngô, một phụ nữ Đức tiêu biểu tóc vàng, cao lớn, cởi mở thường bắt đầu buổi đọc sách bằng nụ cười dễ chịu: giới thiệu với các bạn nhà văn Việt Nam. Thường tôi đọc một trang trong truyện Bi kịch nhỏ bằng tiếng Việt. Sau đó bà Marianne Ngô đọc toàn bộ câu chuyện bằng tiếng Đức. Độc giả nghe chăm chú vì người Đức như vậy, nếu không thích thì họ không đến. Đã đến một sự kiện nào đó họ ngồi lịch sự từ đầu, không ai bỏ về giữa chừng để làm loãng không khí và làm diễn giả mất hứng.

 

Bà Marianne đọc xong, ông Günter nói về văn học Việt Nam, về những tác giả tiêu biểu mà ông được biết và về nhà văn ông dịch sách. Ông nói nhiều về tôi, về con đường tôi đi để sáng tác và mục đích Hội Hữu nghị Đức - Việt tổ chức cho tôi chuyến đi. Phần hứng thú nhất là giao lưu với độc giả. Những người Đức tham gia trong Hội Hữu nghị và cả những người không ở trong hội đều rất quan tâm tới một đất nước cách xa họ. Ở Marburg, có người lái xe hơn 100 cây số tới buổi đọc sách. Ở nhiều thành phố có người như đi theo đoàn, họ đến thành phố tiếp theo mà đoàn đến. Những câu hỏi thiện chí. Có lẽ họ thấy mình không có vẻ gây cấn. Toàn những chuyện mình có thể trả lời trơn tru. Chị nói báo chí và văn học không thay đổi được gì? Tại sao? Nhân vật Bi kịch nhỏ có thật không? Nhiều người Đức đang đến Việt Nam du lịch? Chị nghĩ sao? Truyện Bi kịch nhỏ có gặp rắc rối. Thông điệp trong tác phẩm của chị là gì? Khi tham gia chiến tranh chị có lý tưởng gì? Chị có mang tư tưởng cộng sản đến bây giờ? Việt Nam đang theo hình thức xã hội nào? Có bao giờ chị tiếc nuối mình đã bỏ phí rất nhiều thời gian cho chiến tranh và tham gia nó từ khi còn ít tuổi?…

 

Những câu hỏi đại loại thế và ai cũng có vẻ hài lòng khi tôi như “chia sẻ” với họ.

 

Có nhiều sự ưu ái đối với những người đi trong đoàn đọc sách. Ở thành phố Sulzbach-Rosenberg, công đoàn thành phố tài trợ chút ít cho những người đọc sách để lo xăng xe. Người tổ chức đọc sách ở thành phố này nói: ở Đức có một số người rất ghét cộng sản. Liệu truyện Bi kịch nhỏ có gây ra một cái gì như xung đột giữa người đọc và người nghe? Nói với ông ta: ông yên tâm, ngay ở Việt Nam câu chuyện này cũng êm rồi!

 

Những thành phố nhỏ ở Đức thật dễ chịu với những đường phố nhỏ đặc trưng châu Âu, nhà thấp, đường nhiều dốc, nhiều cây, rất ít người đi ngoài đường. Thành phố nào cũng có nhà thờ, có nơi có hai nhà thờ. Những tháp chuông cao vút, tiếng đàn trong nhà thờ vọng ra làm thành phố có cảm giác chưa hề có những biến động chiến tranh. Người ta sống thư thả thanh bình. Nhưng có những thành phố đông đúc. Offenbach chẳng hạn. Tôi đến đó khi trời đã tối và mưa rất to. Ở lối đi, ở quán cà phê đông nghẹt. Nhiều màu da. Những thanh niên khỏe mạnh đứng túm tụm. Hỏi ra thì không phải dân tị nạn. Thành phố này có tới 80% là người các quốc tịch khác đến sinh sống. Buổi tối dù mưa người ta vẫn đi chơi. Trong một hiệu sách người nghe tới đã đông. Người Đức. Họ hỏi những câu sát sạt bắt mình trả lời: thông điệp trong tác phẩm của chị? Không. Tôi muốn hỏi chị nói gì với độc giả? Chưa. Chưa phải như vậy. Vâng, nghe như vậy thì tôi hiểu rồi…

 

Người Đức hỏi một vấn đề cụ thể họ muốn trả lời chính vào việc đó, không vòng vo không màu mè. Ở tất cả các điểm đọc sách người ta quan tâm đến đời sống hàng ngày của người Việt, tương lai của đất nước, những vấn đề sau chiến tranh. Ít có những câu hỏi làm mình khó. Thực ra những câu hỏi khó thường ẩn sau những câu họ hỏi có vẻ thông thường. Việt Nam đang theo hình thức xã hội nào? Người Việt đối với nhau thế nào khi ở hai phía đối địch trong chiến tranh?

 

Đọc sách trước công chúng ở Offenbach

 

Có một vài thành phố đông đúc khác, và hùng mạnh, như Hamburg, như Frankfurt. Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất thường ở các thành phố nhỏ, nơi người ta đến với buổi đọc sách như được gặp một cái gì khác biệt. Có một người phụ nữ ở Regensburg, khi nghe tôi nói văn học không giúp được ai cái gì, bà đã đến gần và nói: nhờ có văn học mà mẹ tôi biết đến Việt Nam, biết đến cuộc chiến tranh. Trong thế chiến thứ hai, cha tôi đã gây ra rất nhiều tội ác và mẹ tôi không thể nguôi ngoai điều này. Nhưng nhờ có cuộc chiến tranh Việt Nam, mẹ tôi được an ủi rất nhiều vì nơi đó con người đang chống lại cái ác…

 

Những người bạn trong chuyến đi

 

Ở Đức, những người cao tuổi thường có đời sống rất tích cực. Như ông Günter và bà  Marianne Ngo, và những người bạn của họ. Trên bảy mươi tuổi nhưng đi đứng thẳng thớm, lái xe chạy hàng sáu bảy trăm cây số. Có nhiều người tám mươi tuổi vẫn đi bộ đến buổi đọc sách. Vào nhà của họ mới ấn tượng. Một vài người không con cái, sống một mình nhưng hàng ngày họ vẫn chăm chút căn phòng với sách vở, rồi làm vườn, rồi đi đến các sự kiện văn hóa. Không thấy có sự trễ nải do tuổi cao. Họ muốn đóng góp công sức đến cùng.

 

Günter Giesenfeld là giáo sư ngành ngôn ngữ Đức, ông dạy ở Marburg, sống ở đó luôn vì quê ông ở thành phố này. Ngoài ngôn ngữ Đức ông còn dạy thêm môn nghiên cứu công nghệ thông tin. Khi về hưu ông vẫn dạy thêm về công nghệ thông tin, kỹ thuật quay phim chụp ảnh, chấm các luận văn tiến sĩ và đi thỉnh giảng ở các nơi trên thế giới. Ông là chủ tịch Hội Hữu nghị Đức - Việt, đã gặp gỡ rất nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới. Ông còn sưu tầm máy ảnh, máy quay phim trong năm mươi năm. Ông có cả chiếc máy quay từ năm 1903. Marianne là cô giáo trước khi về hưu. Hai ông bà có một phòng trưng bày máy quay phim chụp ảnh, hàng trăm chiếc máy cả ở nhà, cả ở phòng trưng bày, hai ông bà say mê với công việc này và làm rất nhiều việc cho Việt Nam. Họ dịch sách, thiết kế chuyến đi cho Nguyễn Huy Thiệp trước tôi. Bạn bè của họ rất đông ở các thành phố tôi đến đọc sách. Nhờ bạn bè giúp đỡ địa điểm, quảng cáo, giấy mời… Chuẩn bị tổ chức suốt hơn một năm.

 

Một người yêu quý nữa là Ánh Dương tên Việt, và Aurora Ngô tên Đức. Cô sinh ra ở Đức, cha mẹ là người Việt nên thông thạo tiếng Đức và tiếng Việt. Cô là lớp người quý giá, học giỏi và sẵn sàng làm việc thiện nguyện. Cô đi phiên dịch cho tôi mà không có thù lao, tận tâm, dịch giỏi. Tóc dài. Mang kính cận. Vẻ mặt ngây thơ thuần phác con nhà lành, mộc mạc, xinh xắn. Là con gái duy nhất nhưng ngoan ngoãn và qua nhiều việc tôi gặp, tôi biết cô bé yêu nước, tôn trọng cái gì là lẽ phải.

 

Ở Halle, thành phố có nhà xuất bản in cuốn Những bi kịch nhỏ, buổi đọc sách bắt đầu đông thì có một chàng người Việt mặc vét hở ngang tàng hai tay đút túi đến. Anh chàng có vẻ hạ cố khi đến đây, nhìn thấy tôi đứng cùng Aurora, anh ta lớt chớt: thấy các chị nhà xuất bản quảng cáo ghê quá, đến xem thử.

 

Thiếu tự tin, thiếu lễ độ, anh ta bắt đầu chê bai, vì năm rồi có về nước. Nhìn anh ta thấy dáng dấp của một anh chàng đi xuất khẩu lao động, quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Anh ta khoát tay: chán mớ đời. Mình giới thiệu cho mấy thằng Đức cùng công ty đi Việt Nam. Biết sao không? Về gặp lại mình mấy thằng lảng hết, hỏi không thèm trả lời. Thề là không bao giờ đến nước của mày nữa. Ghê tởm. Xem vậy là mình mất hết cả bạn.

 

- Sao lại thế? - Tôi hỏi.

- Ơ, thì chỗ nào cũng ghê tởm mà. Tôi về có mấy ngày là phải chuồn chuồn!

- Nhưng ở đấy còn chín mươi triệu người sống mà. Có cả gia đình họ hàng của cậu nữa. Họ biết đi đâu?

 

Tôi đã quen với mấy anh chàng kiểu này nên nói chuyện cho vui. Nhưng Aurora thì phẫn nộ kéo tay tôi: đi thôi cô ạ. Cháu không thích những người này đâu!

 

Đoàn bốn người đi qua tám thành phố, dự tám buổi đọc sách và buổi nào cũng thành sự kiện vui vẻ. Có ngày đi 600 cây số, đến nơi là làm việc. Thường các buổi đọc sách kết thúc muộn vì còn chương trình ký sách, giao lưu, trò chuyện kéo dài. Độ mười giờ đêm đi ra là đã không còn tìm được quán ăn của người Đức nữa. Chỉ còn quán ăn của người Hy Lạp mở cửa khuya hơn. Những anh chàng phục vụ quán Hy Lạp rất đẹp trai. Cao lớn, da ngăm ngăm, họ thân thiện với khách và cởi mở khi biết khách Việt Nam.

 

Những người bạn gái của Marianne thật dễ chịu. Luise Gutmann nấu ăn rất ngon, thường đi cùng đoàn đọc sách đến mấy thành phố tiếp theo, lúc nào cũng ngồi hàng ghế đầu. Elisabeth Macht biết sáu thứ tiếng, một phụ nữ dịu dàng từng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Và ở Frankfurt, tôi được gặp Wolfgang Repp, làm việc trong công đoàn công nghiệp của bang Hessen, bang có thành phố Frankfurt. Công đoàn này mạnh nhất nước Đức.

 

Hiếm người châu Âu nào tôi gặp có cái vẻ hiền hậu dễ mến như Wolfgang. Ông cao tầm thước, tóc hoa râm, người nhanh nhẹn như dân chơi thể thao. Ông giúp thuê hội trường, quảng cáo và khi buổi đọc sách diễn ra xuôi xẻ, ông còn vui hơn cả chúng tôi. Nhờ có ông mà tôi có được một phần thưởng quý giá: được xem opera Ý. Đoàn opera Ý đến Frankfurt biểu diễn trong nhà hát lớn chật ních người xem, một vở opera của Verdi. Ông mua vé cho chúng tôi, chuẩn bị cho cả suất ăn giải lao. Không biết tiếng, không nghe rõ lời nhưng tôi cảm nhận hết sự cao cả của âm nhạc Verdi, cảm nhận được sự xúc động của cả nhà hát đang lặng đi. Đã từ lâu muốn được xem opera. Vở opera của Verdi là phần thưởng cao quý nhất sau khi đã hoàn thành một chuyến đi. Sau khi đã có gần 400 người đến dự các buổi đọc sách (tổng hợp của ông Günter). Và khi trở về, tôi nhớ mãi con đường đưa tôi đi qua các vùng của nước Đức. Hai bên đường là những cánh đồng màu mỡ, nhiều ngô. Các rừng thông tươi tốt và cái vẻ xanh thẫm trầm lặng của thiên nhiên tươi đẹp làm yên tĩnh lòng người.

 

Đi qua những con đường ấy rồi buổi tối đọc sách lại gặp sự nồng nhiệt của độc giả yêu văn học. Họ không tay bắt mặt mừng, không ồn ào nhưng họ ngồi nghe hoàn toàn là những người bạn thấu hiểu, cảm thông, lắng nghe đến cùng những điều ta muốn nói qua tác phẩm văn học.

 

Lê Minh Khuê