Đáp đền tiếp nối

Chân Dung Văn Học

Năm 1978. Một buổi sáng, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú, trưởng ban văn xuôi báo Văn Nghệ, thấy một anh chàng tuổi mới lớn ngồi chờ ai đó ở hành lang tòa soạn, chờ đã khá lâu. Chị đi qua đi lại mấy lần vẫn thấy chú chàng kia ngồi ở đấy, dáng vẻ như con cháu nhà ai trong cơ quan, lại cũng như cộng tác viên. Cuối cùng chị tiến lại hỏi. Cộng tác viên thật. Chú chàng bạch diện thư sinh, chú gửi bản thảo truyện ngắn cho một nhà văn là biên tập viên, từ vài tháng trước, và bây giờ chú đến hỏi kết quả.

 

 

- Hôm nay anh ấy không đến đâu, em đừng chờ nữa - Nhà văn danh tiếng bảo. Rồi nhìn anh chàng học trò mặt trắng rụt rè, hình như lòng thương nổi lên, chị chạy lên phòng biên tập ở tầng hai, sau khoảng mười phút thì trở xuống, chìa ra tập bản thảo của chú mà chị vừa lục ra được. Anh biên tập viên đã nhận, đã bỏ đấy, mấy tháng rồi cũng chưa đọc. Thôi, tôi sẽ đọc và sẽ trả lời, yên tâm nhé.

 

Chú chàng rụt rè đến hỏi bản thảo ấy là tôi, năm ấy mười tám tuổi, sinh viên năm thứ nhất Đại học Ngoại giao. Nhờ sự sốt sắng ân cần của Nguyễn Thị Ngọc Tú mà những truyện đầu tay của tôi được in ra, không mất hút vào đống bài lai cảo.

 

Ân cần và chu đáo trong công tác biên tập là đặc điểm nổi bật của Nguyễn Thị Ngọc Tú. Sau chuyện ấy, chị đưa vị biên tập viên kia ra trước tòa soạn để góp ý. Anh ta đã xử sự như vậy với nhiều tác giả khác. Bản thảo nhận được, quẳng đấy đã, có thể sẽ đọc mà cũng có thể chẳng bao giờ đọc.

 

Nguyễn Thị Ngọc Tú thì khác hẳn. Đọc cẩn thận, sửa cẩn thận, đặt lại tên truyện, đảm bảo không sai sót chính trị chính em mà vẫn phải khá khẩm về chất lượng. Truyện ngắn đầu tay của tôi kể về một chàng sinh viên thường diễn kịch câm trong trường, lên sân khấu diễn kịch câm mới là lúc anh ta nói được nhiều nhất, còn khi anh ta dùng đến lời nói, nó lại là những lời ngô nghê sai lạc, khiến bạn bè và người yêu đều hiểu sai. Tôi đặt tên truyện là Nói bằng lời của mình, hàm ý ngôn ngữ nào cũng được, lời lẽ hoặc động tác hình thể đều được, nhưng phải nói bằng lời nói của chính mình. Nguyễn Thị Ngọc Tú đổi ngay cho nó cái tên khác: Bạn cùng lớp. Tôi vui vì truyện được in ra cùng lúc với buồn nản vì nó bị mang một cái tên quá bình thường. Nhà biên tập giải thích: người suy diễn thô thiển sẽ bảo cuộc sống có gì khó nói hay sao mà anh không nói trực tiếp bằng ngôn ngữ, phải mượn ngôn ngữ không lời, tức là kịch câm - cái tên truyện Nói bằng lời của mình khiến người ta suy diễn như vậy.

 

Không phải là tôi đã hoàn toàn đồng ý với nhà biên tập. Nhưng lại thêm vài truyện sau đó cũng bị đổi tên. Nguyễn Thị Ngọc Tú là nhà biên tập thiện nghệ và từng trải. Cái nghề dễ gây ra nhiều hệ lụy và bầm giập đã khiến chị trở nên dầy dạn và cao cường trong cắt sửa và đổi tên tác phẩm.

 

Trước khi gặp Nguyễn Thị Ngọc Tú (1942-2013), tôi gặp nhà văn Triệu Bôn (1938-2003). Không dám trực tiếp đến tòa soạn, tôi nhờ chị văn thư của tạp chí Văn nghệ Quân đội, chị của một anh bạn cùng lớp, đưa bản thảo cho ban biên tập. Khoảng một tháng sau thì nhận được thư của nhà văn Triệu Bôn gửi về địa chỉ ở trường Ngoại giao, những dòng thư viết bằng mực tím: Kính gửi đồng chí… chúng tôi sẽ dùng truyện ngắn của đồng chí, đề nghị cho biết truyện đã in ở đâu chưa để chúng tôi tiện sử dụng, chào thân ái.

 

Như là thư gửi cho một nhà văn đã thành danh. Lúc ấy tôi mới dám đến tòa soạn, gặp anh Triệu Bôn. Anh sang các phòng bên báo với mọi người, cứ như thông báo có một ngôi sao xuất hiện. Một lát thì toàn những nhà văn nổi tiếng Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Hồ Phương… ghé sang. Các ông đã đọc bản thảo của tôi và đoán với nhau rằng tác giả là giáo viên, khoảng trên dưới tứ tuần. Không ngờ lại là một chú chàng mười tám tuổi đang tập viết. Từ ấy tôi thỉnh thoảng đến thăm Triệu Bôn. Có cái truyện ngắn, nhân vật tôi đặt tên toàn hai chữ: Huệ Tâm, Lê Hân… Anh Bôn bảo, em đặt tên nhân vật cứ như là cậu ấm cô chiêu trong truyện của Tự lực Văn đoàn. Tôi hiểu anh không chê gì dòng văn học kia, nhưng mỗi thời mỗi khác. Tự hiểu, nhân vật sinh viên thời bao cấp mà toàn những cái tên lá ngọc cành vàng, nghe rất kiểu cách. Từ đấy, tôi hầu như thôi hẳn cách đặt tên nhân vật đài các thiếu tự nhiên.

 

Người mới chập chững vào nghề, được một chút trân trọng thì nhớ mãi, có khi chỉ thế mà đủ niềm động viên để theo đuổi nghiệp văn cả một đời. Nhưng cũng có khi phải thẳng thắn giáng cho vài đòn. Như việc bị Nguyễn Thị Ngọc Tú đổi tên truyện đã kể ở trên. Chưa hết, có lần tôi đem đến một truyện ngắn gửi đăng báo Văn Nghệ, chị đọc rồi bảo: Truyện buồn quá. Buồn quá rồi thôi luôn, chả bao giờ thấy đăng lên. Mà tôi khi ấy mười tám tuổi, khó hiểu cái lý do truyện ngắn buồn thì không in được. Vài năm sau, chị đưa tôi đọc bản thảo của một tác giả khác, phân tích cái non yếu của nó, rồi kết luận là viết thế không thể in được. Đúng lúc ấy tác giả xuất hiện. Chị trả lại anh ta bản thảo và bảo: Truyện buồn quá.

 

Người thú vị hôm ấy là tôi. Giải mã được câu nhận xét của Nguyễn Thị Ngọc Tú. "Truyện buồn quá" là một cách nói, có thể làm cho tác giả còn hy vọng, không in được vì truyện của tôi buồn quá, không hợp với xu hướng lạc quan cách mạng hiện thời, không phải vì tôi viết không hay. Chẳng biết có bao nhiêu người viết ngày ấy được nghe câu "truyện buồn quá" của Nguyễn Thị Ngọc Tú? Nhưng có lẽ chỉ mình tôi biết nó có nghĩa là: truyện dở, không in được.

 

Không phải tôi không có lúc ấm ức với những đoạn bị chị cắt xén, không phải không so đo khi thấy trên báo vẫn in những truyện nhàng nhàng như cái truyện "buồn quá" của mình. Nhưng tôi tỉnh ra thật nhanh. Chỉ vài năm sau đã có cảm giác may quá, cảm giác thoát thân nhẹ cả người, may mà những truyện ấy không được Nguyễn Thị Ngọc Tú cho in ra.

 

Tôi may mắn gặp được những nhà văn danh tiếng đồng thời là biên tập viên tử tế. Nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng ở ban Văn xuôi Văn nghệ Quân đội. Nhà thơ Vân Long phụ trách trang Văn nghệ báo Độc Lập, nhà thơ Phan Cung Việt trông trang Văn nghệ báo Tiền Phong… Các anh nhận bản thảo, khen, chăm chút từng tí để cho nó có thể xuất hiện trên mặt báo. Có lần tôi tình cờ chứng kiến bác Tô Hoài ngồi duyệt bài ở tòa soạn báo Người Hà Nội. Bài thơ của ai đó có một dòng đề: Tặng XYZ, bác lấy bút xóa cái lời đề tặng, nhẹ nhàng như tự nói với mình: In lên báo là để cho nhiều người đọc chứ không phải để tặng riêng ai, muốn tặng người ta thì mua thêm một tờ báo mà tặng. Tôi nhớ anh Bùi Minh Quốc ngày ấy mới từ miền Nam ra, dáng vẻ như một ông thầy mô phạm, sau này tôi nhắc lại nhận xét ấy, anh cười có vẻ rất thú vị, như là nhờ vậy mà phát hiện ra một nét cá tính khác của chính mình. Anh Vân Long thì đôn hậu, nhã nhặn, như một trí thức thời Pháp được lưu dụng ở thời ta. Anh Phan Cung Việt thì cư xử như thể tôi là một nhà văn đã có tiếng tăm. Tôi đưa anh truyện ngắn Còi tàu hú gọi, một anh lái tàu và một cô kỹ sư thủy sản đang nghiên cứu nuôi trồng rau câu chỉ vàng. Loại rau câu trông như sợi chỉ màu vàng. Tiếng còi tàu hú lên ngoài bến cảng như gọi anh đi. Khi đưa in trên báo, anh Phan Cung Việt đổi thành Mùa rau câu chỉ vàng, phù hợp với xu hướng văn học đi vào cuộc sống lao động sản xuất thời ấy. Hễ lần nào gặp tôi, anh lại nhắc đến Mùa rau câu chỉ vàng, cứ như đó là một cái đỉnh, không khỏi khiến tôi vừa vui vừa ngường ngượng. Gần đây, Phan Cung Việt giải thích cho thái độ trân trọng của anh đối với một cây bút trẻ: thời ấy toàn là các nhà văn có tuổi, có được một cộng tác viên trẻ hiếm hoi như thế là mừng lắm.

 

Tôi có lần thấy một anh bạn ngồi bón từng thìa cơm cho bà ngoại hơn chín chục tuổi. Ngay tức khắc tôi hình dung ra một cảnh ngược lại. Chắc chắn là hơn bốn chục năm trước, bà đã ngồi như thế mà bón cơm cho anh. Vai trò đã đổi ngược lại. Người ta bảo nước mắt chảy xuôi, nhưng quan hệ giữa các thế hệ thì nhiều khi cũng có đảo ngược. Sau này Triệu Bôn bị tai biến mạch máu não, ốm đau, gặp tôi, anh run run nói: Em bảo anh cách viết thế nào cho phù hợp để cộng tác với báo. Các anh chị là người thầy đầu tiên của tôi, tôi đâu dám bảo ban. Nguyễn Thị Ngọc Tú thì gửi truyện ngắn để tôi đưa đi in báo. Phan Cung Việt gửi truyện, thơ, tản văn. Vân Long gửi thơ và bài báo. Càng cao tuổi, thơ Vân Long càng tinh tế, còn truyện của Phan Cung Việt càng huyền ảo hấp dẫn. Bây giờ đến lượt tôi biên tập và đưa tác phẩm của các anh chị đi in, báo này không in thì chuyển tiếp sang báo khác, rồi thế nào cũng tìm đến được với người đọc tâm đắc.

 

Đấy là chuyện đổi ngược vai trò giữa các thế hệ, một sự đền ơn đáp nghĩa. Nhưng còn một điểm nữa tôi nghĩ mình có thể đồng điệu với các bậc đàn anh. Chắc chắn các anh chị khi mới bước chân vào làng văn cũng đã gặp những biên tập viên đôn hậu và trân trọng tác phẩm của mình như thế. Không hẳn là các thế hệ văn chương chịu ảnh hưởng tính tình của nhau, tôi vẫn nghĩ đây là sự tương đồng bẩm sinh sẵn có trong những người tử tế. Có hẳn một bộ phim Mỹ mang cái tên Đáp đền tiếp nối (Pay it forward). A giúp B không phải mong chờ để được B giúp lại, mà B sẽ giúp C, C sẽ giúp D. Cứ thế, một chuỗi những điều tốt được truyền đi, được nối thêm, dài ra mãi.

 

Cũng có thể coi như một nhược điểm, thấy ai đó viết hay thì tự trầm trồ với mình chưa đủ, tôi cứ muốn kêu lên cho mọi người cùng biết, cùng thưởng thức. Nhu cầu tìm đọc cái mới cái hay vẫn luôn nguyên vẹn. Một ngày không đọc như một ngày phải nhịn ăn. Bản thảo tự tác giả gửi đến qua đường thư điện tử, rất nhiều người sau đó thành danh mà đến bây giờ vẫn chưa biết mặt nhau. Đọc qua mấy trang là biết ngay như thoáng ngửi mùi bát phở là biết phở chính hiệu hay không. Cái hay lập tức được biên tập, thậm chí tỉ mỉ ngồi chữa từng cái dấu chấm dấu phẩy, từng cái lỗi đánh máy lỗi chính tả. Rồi gửi đi cho báo nào hoặc nhà xuất bản nào phù hợp. Tác phẩm được in ra, không chỉ là niềm vui của tác giả, mà còn là của chính mình. Đấy nhé, một đặc sản mà các vị chưa biết, bây giờ tôi muốn giới thiệu để các vị cùng thưởng thức chia sẻ với tôi.

 

Khi chị Lê Minh Khuê và tôi đọc bản thảo tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can, cả hai đều có được sự mừng vui như thế. Một món ngon. Chuyện sau đó, Mạc Can đã nhiều lần kể lại: qua điện thoại di động, biết tin sách sẽ in được, đang đi đường ông phải xuống xe đứng cạnh gốc cây trên vỉa hè mà khóc một mình. Còn niềm vui của chị Khuê và tôi là sự đền đáp cho hai tháng trời chỉnh sửa từng trang bản thảo.

 

Khi chị Dư Thị Hoàn rủ tôi đi tìm bằng được Nguyễn Thế Hoàng Linh, rồi sau đó chúng tôi chăm lo bản thảo tiểu thuyết Chuyện của thiên tài để cho sách ra mắt và gây được dư luận, cũng là việc làm xuất phát từ sự hăm hở khám phá và tìm tòi những món ngon mới, trước hết là cho chính mình, sau mới là chia sẻ với người đọc.

 

Không kể hết những món ngon mà những tác giả mới tinh đã mang đến, tự mang đến hoặc qua người giới thiệu. Những Trương Anh Quốc, Hoàng Công Danh, Nguyễn Trí, Kiều Bích Hương, Phạm Thị Thanh Mai, Hạo Nguyên… Tôi chỉ làm công việc của người biên tập tự nguyện, làm vì mình thích, làm vì mong tìm được cái mới mà thưởng thức, cuối cùng mới là làm như một nghĩa vụ. Một cây bút như Nguyễn Trí, ngồi viết trong quán net, đọc bản thảo cho các nguyên mẫu nghe trong quán cà phê, tôi hướng anh tập trung vào những truyện li kỳ như đãi vàng, tìm đá quý, khai thác trầm hương là những điều anh thực trải, tập hợp thành tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương. Trương Anh Quốc viết như có gì kể nấy, những truyện ngắn hấp dẫn nhờ chất liệu sống trên những chuyến tàu viễn dương, nhưng khi viết truyện chàng nàng trên bờ hoặc cuộc sống bươn chải ở làng quê, anh không giữ được cái duyên như trên biển. Hoàng Công Danh cũng viết hay về ngôi chùa với ba nhân vật, nhà sư, chú tiểu, chị bán vải, còn chuyển sang viết truyện cuộc sống ngoài ngôi chùa, anh tỏ ra không thông thuộc. Tôi đã góp ý với hai người hãy tập trung vào điểm mạnh của mình và các anh đã viết ra những cuốn sách gây dư luận: Trương Anh Quốc với tập truyện Sóng biển rì rào và tiểu thuyết Biển, Hoàng Công Danh với tập truyện Cõng nhau trong một cõi người. Nói như vậy, nhưng vẫn mong rồi họ cũng sẽ thành công khi chuyển đổi đề tài.

 

Nguyễn Thị Ngọc Tú và các anh chị khác từng góp ý hoặc đổi tên truyện cho tôi. Rồi khi chính mình làm biên tập, tôi cũng đổi tên cho rất nhiều truyện ngắn trong số hàng nghìn truyện đã biên tập. Không phải vì chính trị chính em, mà tên truyện của họ còn đơn giản hoặc chứng tỏ tác giả có lúc lười, đặt béng cho xong. Tên truyện vừa phải phù hợp với chủ đề, vừa phải hay, hơn chút nữa là cái tên ấy phải độc đáo, ngoài ta ra, không ai đặt được. Một cái tên tiểu thuyết như thế này thì ngoài nữ văn sĩ Thụy Điển Bodil Malmsten, không có người thứ hai đặt được: Ngày cây dẻ nở hoa thì tôi đã ra đi.

 

Nhưng khi đổi tên truyện, tôi ít khi đi quá xa, mà thường tìm ngay chữ trong chính tác phẩm của họ, rút những chữ ấy ra mà đặt thành tên mới. Hợp hơn. Đúng hơn. Gợi hơn. Không thể kể hết cách đổi tên đặt tên cho một số lượng truyện ngắn quá lớn đã qua tay, tôi chỉ nhớ đã đặt tên cho tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Danh Lam. Câu chuyện xảy ra ở nhà ga xe lửa với bao cảnh đời ngổn ngang trắc trở lầm than. Tôi đặt cho nó cái tên Bến vô thường. Cuộc đời vô thường này có một cái bến, và tác phẩm hiện thực bỗng nhiên mang một cái tên có tính triết luận bao quát rộng lớn hơn. Cuốn thứ hai của Nguyễn Danh Lam, kể về một hành trình vô định, dường như đi tìm mà không biết tìm cái gì, luẩn quẩn loanh quanh trong một cõi người. Tôi tìm ra cái tên Giữa vòng vây trần gian. Tác giả và tôi đều cho là hợp. Một người sinh con và một người đến đặt giúp tên con. Sang đến đứa con thứ ba, Lam biết tôi bận, và anh cũng quyết chí tự mình đặt tên cho con mình. Cái tên Giữa dòng chảy lạc do anh tự đặt, tôi cũng thấy là hợp.

 

Biên tập cho nhau, đưa in cho nhau, cả người quen biết cũ, người mới quen, hoặc người chỉ biết nhau qua mạng internet mà đến bây giờ vẫn chưa gặp, thế thì rõ ràng công việc biên tập này không phụ thuộc vào sự quen biết hay không. Làm vì thích, làm vì muốn được thưởng thức, làm vì nhu cầu hàng ngày không thể thiếu, làm như một nghĩa vụ. Cái nghĩa vụ ấy nếu có thì nó là một ý tưởng chập chờn mong manh hoặc tiềm ẩn đâu đó trong tâm và trong trí. Nó nằm trong chuỗi mắt xích đáp đền tiếp nối giữa các thế hệ.

 

Đến đây thì tôi nghĩ đáp đền tiếp nối không khuôn lại trong ranh giới của văn chương, nó còn rất rộng ở nhiều lĩnh vực khác, ở trong giới khoa học, giới kinh tế chính trị và trong mọi tầng lớp. Chắc chắn là vậy.    

 

Hồ Anh Thái

 

Nguồn: báo Văn Nghệ 2-9-2013