Cô bán sách và chị thư viện

Truyện Ngắn

Trong cuốn Tự kể sắp xuất bản, nhà văn Hồ Anh Thái viết: “Tôi nhiều lần đã định ghi lại những chuyện nho nhỏ thời bé, chuyện trong nhà, ngoài đường phố, ở trường học. Định nhiều lần, nhưng chưa viết. Có thể thấy chưa cần thiết, có thể ngại cái tiếng già, có thể không muốn kể chuyện mình.

 

Cho đến một ngày, khi đã xa nhà xa nước, lại cũng xa cả những chuyện đã qua về khoảng cách thời gian, lại cũng đến lúc ở vào tuổi ngũ thập không ngại mang tiếng già nữa, bỗng nhiên thấy có cảm hứng ghi lại...”

 

VNQĐ xin giới thiệu một số đoạn trong tập tự truyện này.

 

Con chim hoàng yến

 

Tôi mới năm tuổi rưỡi, đang ngồi trong nhà thì nghe tiếng xoèn xoẹt máy bay ngang qua trên đầu. Tiếng máy bay không to không ghê rợn như những lần báo động khác. Rồi nghe những tiếng lục bục rất xa. Tiếng lục bục cũng không to, chỉ như tiếng nồi cơm sôi. Mặt đất rùng rùng một tí. Thế mà một giờ sau thì người trong phố xôn xao. Nó đánh bom phía bãi sông rồi, chết nhiều lắm.

 

 

Đấy là tháng tư năm 1966. Mỹ ném bom vào một khu phố ở gần bờ sông giữa lúc chẳng ai ngờ. Cả một dãy phố tan tành. Mấy chục người chết, hơn trăm người bị thương. Dân các khu phố xung quanh hoảng loạn, nhiều nhà lục tục gói ghém đi sơ tán ngay hôm ấy.

 

Buổi sáng xảy ra trận ném bom. Buổi chiều tôi ra khoảnh đất phía sau nhà, nơi có một cây bồ hòn cổ thụ. Có lần tự nhiên một đàn ong ở đâu kéo nhau về làm tổ trên cây bồ hòn này. Ong bay lượn vù vù trên đầu, lũ trẻ con chúng tôi mỗi lần ra đấy đều rất sợ. Có người lớn đã bị ong đốt. Một đêm chú Sùi người gốc Hoa cùng ở trong ngõ ra đốt tổ ong để xua chúng đi. Chú mặc áo mưa, đầu quấn một cái áo kín mít chỉ hở ra đôi mắt. Ở đầu một cây nứa dài, chú buộc vào một nắm giẻ tẩm dầu mà đốt. Cứ thế chú huơ huơ cây nứa lên cao, chĩa sát vào tổ ong. Trong đêm tối, một người bịt mặt vung cây sào nứa cho ngọn lửa đỏ rực tỏa khói mù mịt đuổi đàn ong tan tác. Tôi háo hức hé cửa bếp nhìn ra.

 

Bây giờ thì đàn ong đã bỏ đi rồi. Cây bồ hòn lá xanh tươi im phăng phắc. Góc bên kia khoảnh đất là một cái chuồng lợn bỏ hoang, chẳng còn mái, chỉ còn bốn mảng tường không trát vữa trơ gạch màu đỏ thẫm. Tôi ra đến đấy thì bất chợt thấy một con chim vàng óng. Nó nhảy nhảy như một người thọt trên gờ tường chuồng lợn chỉ cao hơn mặt đất khoảng nửa mét. Nhảy và nhảy. Không bay. Hai chân nó hình như cũng chấm phẩy.

 

Tôi nhanh nhẹn chộp được nó. Mà không nhanh thì vẫn chộp được vì hình như nó không đủ sức để bay. Tôi mới chỉ nhìn thấy chim bay trên trời và chim đậu trên cây trong phố. Chưa con nào đẹp như con chim này. Toàn thân nó phủ một lớp lông vàng chanh, phía bên dưới cánh có những lớp lông màu trắng và gần đuôi lại có đám lông phơn phớt xanh lá cây.

 

Tôi mang con chim vào nhà. Mọi người đều nhận ra ngay nó là chim cảnh, chim hoàng yến. Mọi người đều nghĩ ngay rằng nó là con chim của nhà ai đó ở bờ sông, nhà bị đánh bom sáng nay, nó sổ lồng và bay được đến đây. Đến đây thì nó kiệt sức, chỉ còn có thể nhảy nhót chân tươi chân héo. Cơn chấn động hoảng loạn cũng khiến nó không tiếp tục bay được nữa.

 

Nhà không có lồng, tôi chỉ biết buộc một sợi dây mảnh vào chân con chim, tay giữ cái sợi dây kết bằng mấy sợi chỉ ấy. Cho nó uống nước, cho nó ăn mấy hạt gạo, rồi dắt nó đi chơi dung dăng dung dẻ trên cái giường đôi. Con chim dần dần hồi tỉnh.

 

Đêm, tôi để con chim hoàng yến dưới nền nhà, lấy một cái rổ úp lên và chặn lên đấy một hòn gạch.

 

Sáng hôm sau, tôi nhấc cái rổ ra, đưa con chim lên giường chơi. Đang yên đang lành thì thình lình một con mèo lao vút từ dưới đất lên giường. Nó vồ lấy con chim. Tôi giật được ra. Khóc ré lên gọi mợ ơi mợ ơi. Chạy vòng quanh trên giường. Con mèo lại hung hãn lao phốc tới, cú vồ của nó rất thành thạo chuyên nghiệp. Tôi vẫn vừa chạy vừa khóc, tay giật mạnh sợi chỉ để giữ lại con chim. Chẳng biết con mèo có kịp nhai hay chỉ nuốt mà trong chớp mắt con chim hoàng yến đã biến mất trong mõm nó. Tôi giật lại sợi chỉ. Hẫng. Chỉ còn sợi chỉ trơ ra trong tay.

 

Không có một người lớn nào trong nhà để đánh đuổi con mèo. Giải quyết xong con chim rồi, con mèo nhảy xuống nền nhà, không bỏ đi mà ngồi khoanh chân nhìn lên tôi. Tim tôi vẫn đập thình thịch, sợ hãi và đau đớn. Con mèo thì không có vẻ thèm thuồng của tội đồ mà lại nhìn tôi có vẻ buồn rầu. Nó lúc nào cũng buồn rầu như thế. Nhưng bây giờ tôi đã biết ẩn giấu sau vẻ buồn bã ấy là một sức mạnh tàn ác ghê người và nó sẽ còn nhảy phốc lên lần nữa nếu tôi có một con chim khác.

 

Thực ra thì lâu nay tôi vẫn sợ mèo. Trong ngõ có hai con mèo của bác Tiệp chủ nhà, đây là một trong hai con ấy. Hai con này chẳng giống đám mèo khác trong phố. Một con lông đen trắng là con này. Một con lông vàng trắng là con kia. Cả hai đều to gần như hai con chó, chỉ cần chúng chạy qua chạy lại là đã coi như uy hiếp đám trẻ con.

 

Tôi khóc con chim hoàng yến vài ngày. Lâu lâu nhớ lại cú vồ hung hãn của con mèo thì vẫn thấy đau đớn. Vẫn nhớ con mèo lao theo như muốn vồ cả vào chân tôi. Nhớ sau thảm cảnh, trên giường chỉ còn lại hai cái lông con hoàng yến, một cái lông vàng óng và một cái lông trắng. Trong tay tôi thì chỉ còn trơ lại sợi chỉ.

 

Tôi vốn ghét mèo và từ đấy càng ghét. Trong vẻ lặng lẽ dịu dàng buồn bã của chúng tôi thấy một sức mạnh điên cuồng có thể bùng ra bất cứ lúc nào. Không bao giờ trong ý nghĩ của tôi lại nảy ra việc nuôi mèo nuôi chó. Chẳng bù cho một đứa cháu là Hùng híp, nó thân thiết với chó mèo và khi đã là thanh niên rồi, nó vẫn để cho lũ chó mèo rúc vào ngủ cùng trong chăn.

 

Vài năm sau, đi sơ tán trở về, tôi không còn thấy hai con mèo nhà bác Tiệp diễu qua uy hiếp nữa. Hình như mấy năm máy bay Mỹ quần đảo trên thành phố, các nhà đi sơ tán hết, hai con mèo đã bỏ đi hoang rồi biến mất. Biến mất, chứ ngày ấy không ai ăn thịt mèo và không ai bắt trộm mèo.

 

Rượu vào mới lưu thông

 

Sau giải phóng thủ đô 1954, bác Hoàng Trung Thông xin cho cha tôi vào đài Tiếng nói Việt Nam. Bác thấy ông em viết lách cũng được, lại thạo hai ngoại ngữ là tiếng Pháp, tiếng Trung. Cha tôi vào đài, ban đầu làm ở Ban Đối ngoại, chuyên về tiếng Pháp, về sau chuyển sang Ban Văn nghệ. Rất nhiều khi cao hứng, cha tôi còn làm tường thuật bóng đá trên đài. Bác Thông mê rượu thì cha tôi mê bóng đá và cờ tướng. Cha tôi cộng tác với cả Tổng cục thể dục thể thao và tham gia Hội cờ tướng Việt Nam. Cha tôi ở trong nhà bác Thông, một căn phòng tầng hai nhà số 70 Ngô Quyền. Có đêm cha tôi đi xem bóng đá ở sân Hàng Đẫy về muộn, nhà dưới người ta đã khóa cổng, phải trèo tường mà vào.

 

Bà nội tôi có mấy anh chị em: ông anh sinh ra bác Hoàng Trung Thông, bà em sinh ra cha tôi. Vậy bác Thông và cha tôi là con cô con cậu. Cha tôi tính tình vui vẻ dễ hòa nhập trong mọi môi trường. Ở trong nhà bác Thông lúc nào cũng vui. Chị Hồng và chị Liên ở tuổi sáu mươi rồi mà vẫn nhắc chuyện ngày bé được cha tôi dạy mới biết chơi tú lơ khơ. Bà bác tôi thì đúng kiểu đàn bà con nhà nho xứ Nghệ, rất ưa hài hước và ưa kể chuyện hài hước. Thời nhà văn Nguyễn Minh Châu mới ra cuốn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, bà bác tôi đọc cứ tấm tắc khen mãi. Một lần gặp chú Châu, tôi kể chuyện bà vợ bác Thông mê cuốn sách của chú. Không lâu sau chị Hà bảo tôi: Hôm nay chú Châu đến nhà chơi, thế là mẹ chị được gặp nhà văn mình hâm mộ. Chắc là chú Châu thấy để cho một người hâm mộ mong gặp mãi thì cũng không tiện, chú chủ động đến trước, lần đầu tiên chú đến nhà bác Thông. Sau này, khi đến Việt Nam Phật quốc tự ở Boddhgaya, nơi Phật giác ngộ bên gốc bồ đề, tôi thấy thầy Huyền Diệu có ban thờ những người có công và có danh, tôi gửi ảnh nhà thơ Hoàng Trung Thông và nhà văn Nguyễn Minh Châu vào đấy. Thế là hai người lại ở bên nhau.

 

 

Nhà bác Thông ở Ngô Quyền đến bây giờ vẫn vậy, vẫn chỉ là một căn phòng khoảng gần ba chục mét vuông. Sàn gỗ lim đen bóng, đúng kiểu sàn nhà của biệt thự thời Tây. Người nằm trên giường, người nằm dưới sàn nhà gỗ mát lạnh. Nhà chật nhưng thường xuyên đông khách. Bạn bè văn nghệ sĩ. Tôi gặp ở đấy bác Tô Hoài bác Xuân Diệu là những người cũng hay lui tới. Bà bác tôi nhanh nhẹn, tháo vát, hiếu khách. Chỉ loáng một cái là mâm cơm chai rượu được bày ra trên nền nhà gỗ. Một chút mắm tôm mắm tép xứ Nghệ, một chút thịt ba chỉ thái mỏng, lát gừng lát khế, một chút bún, thế là thành bữa rượu. Chen chúc chật nhà, khi thì các nhà văn nhà thơ. Khi thì các nghệ sĩ sân khấu điện ảnh từ Sài Gòn ra làm việc ra dự liên hoan phim. Khi thì các nhà nghiên cứu ở Viện Văn học bỗng nhiên muốn đến nhà bác Thông tụ tập.

 

Tôi đã có lần kể ông bác tôi là người được các nữ thi sĩ rất thương. Đang đi bộ trên đường thì gặp các nữ sĩ vừa đi chợ về chẳng hạn, khi thì gặp nhà thơ Ý Nhi, khi thì gặp nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát… Các nữ sĩ không bao giờ để cho bác phải lang thang quá lâu, anh về nhà em, em nấu cho anh ăn, có rượu cho anh uống. Chị Hà kể: Mẹ chị coi thế là làm phiền các cô các chị ấy, mẹ chị phải nhắc bố chị rằng nhà ai cũng thiếu thốn, đừng làm phiền người ta. Bố chị lại hồn nhiên: Cô chú ấy mời nhiệt tình quá, khó từ chối.

 

Ấy thế nhưng bà bác tôi lại không thấy phiền khi chuẩn bị những bữa rượu ngồi chật nhà. Mà cô Anh Thơ, cô Ý Nhi, chị Hồng Ngát và bao nhiêu người về sau cũng không thấy phiền, cũng chỉ nhắc đến những kỷ niệm vui với bác Thông. Cô Anh Thơ chuyển vào Sài Gòn, gặp cô Tâm Trung vào công tác, bèn gửi mấy chục bạc: Cầm ra cho anh Thông uống rượu. Cô Tâm Trung mang tiền ra, bình một câu như chuyện tất nhiên: Người ta bạn văn bạn thơ, người ta gửi tiền cho nhau uống rượu.

 

Tôi tập viết. Cha tôi và bác Thông đều không biết. Mãi đến khi có mấy truyện ngắn được in trên Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, tôi mới chủ động đưa cho mọi người đọc. Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và nhà văn Triệu Bôn là hai người đầu tiên biên tập cho, cũng chẳng cần biết mình con cái nhà ai. Một thời gian sau, khi cái tên tác giả đã hơi quen quen, tôi mới thú thật là cháu bác Thông. Có lần cô Tú thấy một cái truyện ngắn của tôi có thể in được, bèn đưa cho nhà văn Đào Vũ và nhà thơ Phạm Hổ duyệt. Hai người đều ngại, bảo lúc này chưa in được. Cô Tú bảo: Nó là cháu ông Hoàng Trung Thông đấy. Cô Tú thật thà tưởng câu ấy có thể khiến cho người duyệt ngại. Cháu thì cháu. Nhà thơ Phạm Hổ đành đọc một lần nữa, rồi ngày hôm sau gặp cô Tú, trả lại bản thảo và nói: Tôi cũng thấy là truyện này được, nhưng dữ dội quá, báo mình in lúc này không tiện.

 

Cháu thì cháu. Bác Thông cũng không khuyến khích con cháu trong nhà đi vào văn chương. Anh Dương và anh Vỹ học xây dựng và kiến trúc, chỉ có anh Vỹ về sau bỏ kiến trúc trở thành họa sĩ Hoàng Phượng Vỹ. Bản thân tôi bây giờ cũng không muốn hướng con cháu vào làm văn chương làm ngoại giao. Tôi làm nghề gì thì không muốn cho thế hệ sau trong nhà theo nghề ấy. Có trong nghề mới biết cái gian lao của nghề và tôi ngại đám con cháu phải mang cái gánh nặng ấy như mình từng mang.

 

Nhưng khi ấy tôi đã trót viết trót in thì cha tôi và bác Thông cũng phải coi là sự đã rồi. Có lẽ các vị cũng nhẹ nhõm phần nào khi thấy tôi không quá mơ mộng viển vông mà còn chịu khó học hành.

 

Lại nói chuyện rượu của bác Thông. Đấy là chuyện nhiều bạn bè văn nhân của bác đã viết và còn viết. Một kiểu rượu có vẻ tiên phong đạo cốt. Một kiểu rượu như nén giữ ẩn ức kìm lòng. Một kiểu rượu chan hòa bốn biển là anh em. Có lần tôi từ Ấn Độ về, đi qua Bangkok, ghé vào gian hàng rượu mênh mông, nhìn thấy rượu là không nghĩ đến ai, chỉ nghĩ đến bác Thông. Khi ấy tôi còn là nghiên cứu sinh nghèo, trong nước thì mới qua bao cấp đang còn thiếu thốn, chai rượu Black Label mang về, bác Thông cứ tấm tắc, lâu nay khi nào có thì chỉ có chai Red chứ không có chai Black như thế này.

 

Mấy lần bác phải cấp cứu, nằm ở bệnh viện Việt Xô, nằm viện mà vẫn có rượu uống. Bác thú nhận nửa kín nửa hở rồi cười cười nhìn ra chỗ hàng rào bệnh viện. Đám bạn rượu vẫn kín đáo mang rượu vào cho bác, đưa qua cái hàng rào thưa.

 

Có lần cha tôi hỏi bác Thông: Anh huyết áp cao, có thể bớt rượu một chút được không. Bác bảo: Chú không biết rồi, huyết áp cao, rượu vào mạch máu nó mới giãn nở ra, máu mới lưu thông. Cha tôi cứ cười mãi. Ngụy biện.

 

Những cô bán sách

 

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi đọc khi mới bắt đầu tiểu học là Hội chợ phù hoa của W. M. Thackeray.

 

Năm ấy tôi lên tám. Đang ở nơi sơ tán. Máy bay Mỹ cứ nhằm vào các thành phố lớn mà ném bom. Dân thành phố phải sơ tán về nông thôn, những vùng xa đô thị. Mang theo được cái gì thiết yếu thì mang. Cha tôi mang theo mấy cuốn sách. Nhưng rồi ông cũng không đọc số sách ấy mà gửi hết ở chỗ mẹ con tôi. Ông là nhà báo, phải đi theo cơ quan sơ tán ở vùng khác và phải đi viết bài. Vậy là số sách cha tôi mang ra khỏi thành phố trở thành những cuốn sách đầu tiên của đời tôi.

 

 

Tôi đọc hết, không bỏ sót một cuốn nào. Toàn là sách dày. Đến mức sau này tôi không thích đọc truyện tranh hoặc sách mỏng. Sách mỏng đọc một tí là hết, chán. Phải sách dày đọc mới đã. Sáng, mở mắt ra, đọc. Đi học về, ném cặp sách xuống, đọc. Trước khi ăn, đọc. Sau khi ăn, cũng đọc. Ngay lập tức. Chui vào góc tối mà đọc. Cha tôi bảo thế là phản khoa học, hại mắt hại người. Bảo không được, có đêm tôi vừa mới chìm vào giấc ngủ thì bị cha tôi gọi dậy. Ông bắt tôi bê hết số sách tôi gom góp được, chất đống trước sân nhà, đòi đốt. Mẹ tôi và chị Thơ phải xin hộ, xin mãi mới thoát.

 

Học hết cấp một, lên lớp năm, tôi lập được tủ sách của riêng mình. Số sách của cha tôi mang đi sơ tán đã đọc hết. Sau đó Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc, trở về thành phố, tôi ngấu nghiến cả tủ sách của cha. Toàn bộ sách văn học dịch của châu Âu và Mỹ, thêm cả văn học Nga và văn học Xô Viết. Rồi tôi tìm đến các hiệu sách. Chỉ để mà ngắm nhìn. Thời chiến. Thiếu giấy, thiếu nhà in, sách hay chỉ để bày một cuốn trên giá sách, mỗi đầu sách chỉ có dăm ba bản để bán. Chỉ một ít trí thức cần nghiên cứu mới được mua. Phải có tem phiếu mới mua được lượng thực phẩm ít ỏi hàng tháng. Sách cũng phải có thẻ đặc biệt mới mua được.

 

Tôi chỉ có cách lân la thường xuyên ở hiệu sách để ngắm nhìn. Dần dần thành ra cô bán sách quen mặt. Gom góp mãi cũng chỉ đủ tiền mua những cuốn truyện thiếu nhi, mỗi cuốn chỉ dày hơn một trăm trang. Giá 2,2 hào. Ô, trong túi tôi chỉ có hai hào. Đấy là phải nhịn ăn bốn bữa sáng. Đang là thời “Ai kem! Ai kem! Kem một hào hai chiếc, một chiếc năm xu, này chú bán kem, có rao thì rao cho khéo, đừng làm huyên náo, điếc tai hành khách đi đường...” Trẻ con nhà khá giả ăn sáng một hào hoặc là hơn. Tôi thì cha mẹ cố gắng lắm chỉ được năm xu buổi sáng. Mua được một cái bánh rán hoặc một nắm xôi nhỏ. Thế mà cố nhịn, chỉ vì nghĩ đến một cuốn sách có thể mang về nhà, có thể sở hữu mãi. 

 

Cô Ngân bán sách thấy tôi tần ngần thì hỏi:

 

- Cháu có bao nhiêu tiền?

 

Tôi giơ tờ giấy bạc cho cô thấy:

 

- Dạ, cháu chỉ có hai hào.

 

- Đưa cô bán cho.

 

Tôi nhớ mãi giọng nói dịu dàng và vẻ thùy mị của cô Ngân. Đưa cô bán cho.

 

Từ đó, tôi là đứa bé được cô Ngân ưu tiên, tôi thiếu vài ba xu lẻ thì vẫn được cô bán cho cuốn sách. Cô không biết là tôi đã phải nhịn ăn sáng triền miên đến như thế nào, nhịn đến mức sắt cả người, đến mức cha mẹ tôi phải mách thầy chủ nhiệm. Chỉ đơn giản cô là người hiền hậu. Đưa cô bán cho.

 

Năm 1972, Mỹ ném bom trở lại các thành phố miền Bắc. Gia đình tôi lại đi sơ tán. Phải đi đò qua một con sông nhỏ mới đến cái làng mình về sơ tán. Ở nhờ nhà một bác nông dân, mấy mẹ con bác đều làm nghề dệt vải. Không mang được sách theo. Máy bay nó mà ném bom vào nhà, thì nhà cũng chẳng còn, nữa là sách. Tôi sống trong căn nhà của bác thợ dệt mà lo nghĩ về tủ sách của mình không sơ tán được.

 

Một hôm, chị Thơ từ thành phố lên thăm. Tôi đã nhắn chị từ trước tìm mua cho tôi cuốn Không gia đình của Hector Malot, tập hai. Cuốn sách được chia làm ba tập, nhưng tôi mới chỉ có tập một. Đến nơi chị bảo:

 

- Ở thành phố chưa có Không gia đình tập hai.

 

Tôi xịu mặt xuống.

 

Chị nói thêm:

 

- Ở bến đò bên kia sông, có một hiệu sách. Chỉ có mấy cuốn sách mỏng, chẳng biết em có thích hay không, nên chị không mua.

 

Nghe nói có hiệu sách, mắt tôi sáng lên. Tôi chạy vụt ra khỏi nhà. Đi bộ gần năm cây số giữa trời nắng. Đường đi có những chỗ trống trải giữa cánh đồng. Những chỗ như thế rất nguy hiểm, máy bay Mỹ có thể xoẹt đến bất cứ lúc nào mà ta lại không kịp tìm được hầm hoặc chỗ nấp. Thế mà tôi đã đi. Rồi lại lên một con đò để qua sông. Cũng rất nguy hiểm. Giữa sông nước, con đò mỏng như chiếc lá, rất dễ bị máy bay Mỹ phát hiện. Tôi qua sông, tìm được hiệu sách ngay trên đỉnh dốc dẫn xuống bến đò. Đắn đo mãi mới chọn tạm một cuốn sách mỏng. 

 

Tôi vội vàng xuống đò trở về ngay. Đường về ngang qua một nhóm mấy người công nhân sửa đường. Thấy tôi cầm cuốn sách đi qua, một anh vẫy tôi lại:

 

- Cho xem một tí nào.

 

Tôi quay lại, chìa cho anh cuốn sách. Mấy chị công nhân xúm vào giở sách ra đọc lướt. Một chị cười rộ vì tâm đắc với câu văn trong ấy: “Nước mắt nó tóa ra”. Không phải nước mắt chảy ra mà là tóa ra. Ô hô, ông ấy dùng từ tóa ra. Chú bé miền núi trong truyện Chim họa mi đã được nhà văn Ma Văn Kháng miêu tả bằng một động từ có vẻ rất miền núi, nghe lạ tai. 

 

Ngày hôm sau, bác chủ nhà đi đâu đấy trong làng, về kể lại. Có một cặp vợ chồng trẻ và một đứa con sơ tán ở căn nhà đầu làng. Sáng sớm nay, người chồng và gia đình chủ nhà thức dậy thì thấy người vợ đã treo cổ tự tử. Người làng xúm đen xúm đỏ. Người chồng đem ra một bức thư, chìa cho dân làng xem. Thư của người vợ viết cho một người đàn ông nào đó nhưng chưa kịp gửi đi. Anh ta đọc lên những dòng như thế này: “Những giờ phút ngắn ngủi được ở bên anh, bằng cả đời em phải sống cùng với chồng em...”

 

Trẻ con, tôi hầu như quên ngay những chuyện như thế trong cái làng này.

 

Một thời gian sau, cô Thảo của tôi đến thăm. Chen giữa những câu chuyện về thời chiến, đột nhiên cô nói với mẹ tôi:

 

- Cái Ngân chết thương nhỉ.

 

- Ngân nào chết?

 

- Cái Ngân bán sách ấy. Nó chết ngay trong làng này mà.

 

Thì hóa ra người treo cổ tự tử là cô Ngân bán sách của tôi.

 

Hơn bốn chục năm rồi, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ về cô Ngân, cô bao giờ cũng đứng sau quầy sách, vẻ thùy mị và giọng nói êm dịu lạ lùng.

 

***

 

Làm quen được với những người bán sách là việc quan trọng suốt tuổi thơ tôi. Thực tế là tôi cũng gây được thiện cảm với rất nhiều người.

 

Một lần tôi tình cờ gặp cô Và. Cô hỏi tôi con ai, rồi reo lên khi biết tên cha tôi. Cha tôi là nhà báo, giới sách vở cũng nhiều người biết và cô cũng quen. Cô hỏi tôi thích đọc sách gì? Đọc sách là đề tài tôi hào hứng nhất. Cái kho sách trong đầu tôi làm cô Và ngạc nhiên, bé thế mà đọc toàn truyện người lớn à? Bố không cấm à? Không, tôi kể rằng cha mẹ tôi không cấm tôi đọc tiểu thuyết. Cô Và có vẻ thích thú, cô hẹn tôi đến hiệu sách của cô chơi.

 

Tôi đến ngay. Thật đúng là chuột sa chĩnh gạo. Mỗi tuần có một đợt sách mới. Người ta chở sách mới đến hiệu sách bằng xe xích lô. Chỉ có cô bán sách và ông xích lô khuân những bó sách mới từ trên xe vào trong cửa hàng. Tôi hăng hái chuyển sách giúp cô Và, giống như tôi vẫn thường hăng hái khuân vác giúp các cô bán sách ở những cửa hàng khác. Lẽ tất nhiên, sau đó tôi được phép cắt dây, mở từng bó sách ra. Được là người đầu tiên nhìn bìa sách, hít ngửi mùi giấy mới mùi mực in, được lật giở và đọc lướt từng cuốn. Cô Và còn ưu tiên bán cho tôi những cuốn sách quý. Nghiễm nhiên tôi có quyền mua sách như một người có thẻ ưu tiên.

 

Rồi cô Và cho tôi đến nhà. Cô là người gốc Hoa, cha mẹ cô sang Việt Nam từ lâu, sinh ra cô ở Việt Nam. Chồng cô cũng là người gốc Hoa. Thỉnh thoảng hai người lại quay sang nhau, diễn đạt một điều gì đó bằng tiếng Hoa. Nói tiếng Việt lưu loát nhưng phát âm thì vẫn xổng xoảng theo kiểu người Hoa. Con gái cô nấu chè đỗ đen, mang ra cho tôi ăn cùng cả nhà. Chuyện trò rôm rả về những cuốn sách mới đọc. Như một cuộc hội thảo. Quan điểm cũng có khi đến mức căng thẳng. Có lần con gái cô đuối lý, bị bố mắng, dỗi, bỏ vào nhà trong. Các cuộc thảo luận sách không phải bao giờ cũng kết thúc mỹ mãn.

 

Mấy năm sau thì có vụ “nạn kiều”. Căng thẳng trên biên giới Việt - Trung. Rất nhiều người gốc Hoa khăn gói rời bỏ nơi họ đã sinh sống hơn nửa thế kỷ, thậm chí có người đã sinh ra ở đất này. Năm 1978 tình cờ chị tôi gặp cô Và trước ngày cô ra đi. Cô ôm lấy chị tôi mà khóc:

 

-    Cô không muốn đi, không muốn đi. Cô sinh ra ở đất này, đây là nhà rồi, còn đi đâu nữa...

 

Nói vậy nhưng cả nhà cô vẫn phải đi.

 

Bẵng đi lâu lâu. Một lần có cậu bạn tôi bảo:

 

-    Cô Và về đến “nước mẹ” rồi, lại còn lên đài phát thanh kể lể vấn nạn khi còn ở Việt Nam nữa.

 

Dù nguồn tin của cậu bạn là chính xác, tôi vẫn không muốn tin.

 

Cô Và của tôi, bây giờ cô ở đâu? Lên đài trả lời phỏng vấn rồi sau đó có làm cho gia đình cô dễ chịu hơn hay không?

 

***

 

Và những cô bán sách khác nữa, mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa có dịp gặp lại ai cả.

 

Chị thư viện

 

Trong nhà có nhiều sách, tôi lại quen nhiều cô bán sách để được mua ưu tiên mỗi khi có sách mới về. Nhưng một ngày tôi chợt nghĩ, đến thư viện lục tìm sách cũng có cái hay. Mượn những cuốn sách cũ mà nhà mình không có. Mượn những cuốn sách mới mà mình không đủ tiền, đắn đo mãi rồi đã chuyển sang mua cuốn khác. Tôi tìm đến thư viện thiếu nhi. Thư viện biệt lập giữa một vườn cây um tùm. Điền vào bản khai, về lấy dấu chứng nhận của nhà trường. Sau một thời hạn nào đó, đến lấy thẻ đọc.

 

Chị thư viện thấp, đậm người, mặt tròn, da ngăm ngăm, trông giống một bà bán hàng măng miến mộc nhĩ nấm hương. Chị đưa tay tìm trong đám hàng chục cái thẻ đọc mới cấp. Thoăn thoắt gạt những cái thẻ ra như tìm phích đọc sách. Rốt cuộc chị rút ra cái thẻ của tôi, bảo: Thẻ của em đây rồi, nhưng bây giờ em ra lao động với các bạn, rồi hẵng vào nhận thẻ.

 

Tôi không bất ngờ. Mấy lần đến thư viện, tôi đã nhìn thấy một đám học sinh trên dưới mười tuổi như mình đang tíu tít cuốc xới trồng rau tưới rau. Nghe nói cái vườn bên cạnh thư viện là của chị thư viện. Học sinh đến làm thẻ đọc, tất cả đều phải ra làm vườn cho chị vài ba tiếng đồng hồ. Đang thời cả xã hội tràn ngập tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, một cái vườn riêng như thế bị coi là sở hữu tư nhân, không tốt. Bắt trẻ em làm việc cho một cá nhân, không tốt. Kiểu cách lợi dụng học sinh của chị thư viện thực ra lạc lõng trong xã hội. Nhưng chị cứ ngang nhiên làm như vậy, chắc cán bộ quản lý chị cũng bất bình, thế mà chuyện vẫn cứ kéo dài nhiều năm trời.

 

Tôi không chịu làm vườn. Chị thư viện bảo: Thẻ của em đây rồi, nhưng bây giờ em ra lao động với các bạn, rồi hẵng vào nhận thẻ. Tôi nói luôn: Em đã đóng tiền thẻ rồi, em không làm vườn đâu. Tôi không dùng chữ lao động của chị, lao động nghe có vẻ nghĩa vụ chính thức của học sinh. Tôi dùng chữ làm vườn. Không chủ ý, nhưng chữ làm vườn nghe như làm thuê làm mướn làm công, có vẻ không chính thống và như là bị bóc lột. Tôi nói lưu loát, gãy gọn, rõ ràng. Chị thư viện hơi giật mình, mắt chị đảo một cái rất sắc, rồi chị cụp mắt xuống không nhìn tôi. Ngón tay chị vân vê trên cái thẻ một vài khắc như đắn đo. Rồi chị đành đưa cái thẻ cho tôi.

 

Lúc trở ra, đi qua cái vườn rau đang ríu rít tíu tít bọn học sinh cuốc xới tưới nước, tôi cảm thấy là mình sẽ không quay lại đây nữa. Tôi mới mười ba tuổi chứ mấy, nhưng đã linh cảm thấy mình trở lại đây chưa chắc đã mượn được sách cần đọc, lại ám ảnh cái đảo mắt rất ghê của chị thư viện, lại ám ảnh cái câu đối đáp có khi cũng rất ghê của mình. Chắc chẳng đứa nào dám nói với chị thư viện như vậy.

 

Tôi không đến thư viện mượn sách. Cái thẻ bỏ đâu đấy rồi lâu dần chẳng nhớ đến nữa. Chẳng cần. Nhà tôi cũng đủ sách báo để đọc. Đều đặn tôi vẫn đi mua sách mới bổ sung.

 

Vài năm sau, gia đình tôi chuyển đến khu tập thể bên cạnh một hồ nước dài và hẹp. Dọc theo hồ là những dãy nhà chạy dài vài cây số, ngăn thành từng căn hộ cấp bốn, mỗi hộ trên dưới bốn chục mét vuông, tùy theo. Hóa ra chị thư viện ở liền tường nhà tôi. Chị không nhận ra tôi, mỗi năm có hàng trăm học sinh đến làm thẻ và hàng nghìn đứa đến mượn sách, nhớ làm sao được.

 

Chị thư viện có hai đứa con trai, một đứa lúc ấy khoảng mười tuổi, đứa kia khoảng năm tuổi. Chị đặc biệt xung với thằng con lớn. Suốt ngày chị la hét mắng nhiếc thằng này. Đánh con dã man luôn. Hùng hổ xông đến đá con lăn lông lốc ra bậc thềm, mồm hét: Chết cụ mày đi. Kiểu nhà cấp bốn liền tường như thế, hàng xóm nghe nhau rõ mồn một như giữa nhà mình. Xoong nồi bay loảng xoảng, cốc chén nhựa hoặc ca sắt tráng men bay vèo vèo đập vào tường lăn lóc xuống nền nhà.

 

Ấy thế nhưng khi chồng về phép thì chị nem nép, sợ chồng một phép. Suốt ngày không dám ho he một câu. Bây giờ đến lượt anh chồng nói. Anh là đại úy bộ đội, mỗi năm về phép vài ba lần. Anh gọi vợ là cậu xưng là tớ. Cậu dạy con chẳng ra cái quái gì. Anh bảo chị vợ. Cậu không nghiêm khắc với con, cậu thả lỏng cho nó, nó không tập trung học hành, kết quả trung bình kém là tại cậu.

 

Anh chồng không phải là cấp phó chính trị ở đơn vị, nhưng anh rao giảng suốt ngày, lằng nhằng dây dưa như kẹo kéo kẹo cao su. Phòng riêng của tôi liền tường với căn phòng anh ngồi dạy con trai. Tường gạch, nhưng kiểu nhà cấp bốn như vậy thì dầm xà kèo cột phía trên mái ngói vẫn hở, có gì phải nghe bằng hết. Tôi ngồi học bài bên phòng mình, nghe cái giọng đều đều của anh chồng bên kia cứ như mưa dầm. Mỗi cuộc giáo huấn kéo dài vài ba tiếng đồng hồ. Anh cậu cậu tớ tớ với vợ. Còn với thằng con trai thì anh anh tôi tôi. Tôi phải nghe anh ấy kèo nhèo với con từ khi thằng bé mười tuổi đến năm nó mười ba tuổi. Anh phải nghe lời mẹ, mẹ anh quá dễ dãi buông lỏng với anh, cậu ấy quá chiều con để anh học hành chẳng ra sao, anh là con lớn trong nhà, anh phải làm gương để cho em nó noi theo, anh giúp tôi yên tâm nhiệm vụ, làm tốt công tác quốc phòng bảo vệ đất nước, chẳng nhẽ anh lại muốn tôi phải đưa anh lên đơn vị, gửi anh vào trường rèn giũa theo kỷ luật quân đội.

 

Về sau thằng con học hết phổ thông, vào trường quân đội thật. Một cái trường trung cấp nào đấy. Nó kém tôi khoảng dăm sáu tuổi nhưng vẫn gọi tôi bằng chú. Thời gia đình tôi ở Thịnh Quang, bà chị dâu tôi có lần gặp chị thư viện ở chợ. Nghe nói nhà chị thư viện cũng chuyển về ở đâu gần đấy, vùng ngã tư Sở.

 

Tự truyện của Hồ Anh Thái