Cả nhà cùng cười vui

Truyện Ngắn

Hồ Sỹ Lãng (1918-1999)

Bút danh: Việt Quỳnh

Nghề nghiệp: nhà báo

Từng làm việc tại Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Nam Hà.

Nguyên quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An.

 

Hồ Anh Thái

Sinh năm 1960

Nhà văn, nhà ngoại giao.

Chủ tịch hội Nhà văn Hà Nội (2000-2010), ủy viên ban Chấp hành hội Nhà văn Việt Nam (2005-2010).

Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran (2011-2015) và tại Indonesia (từ 2015).

 

Ông chưa ở Paris phải không?

 

Câu này trong nhà tôi bây giờ đã thành chuyện đùa. Nhưng nó bắt đầu từ một chuyện cũ của cha tôi. Ngày trước ông chưa ở Paris phải không?

 

Trước năm 1945, cha tôi hoạt động bí mật chống thực dân Pháp và làm việc trong ngành hỏa xa, ngành đường sắt bây giờ. Một thời gian ngồi bán vé tàu, cho người Pháp. Một hôm ngồi kiểm kê sau giờ bán vé, thấy thiếu mất số tiền của bốn chiếc vé hạng nhất. Cha tôi là người giỏi tính nhẩm và nhanh ý. Ông nhớ ra ngay. Trong số hàng trăm người mua vé ngày qua, nhớ ngay ai là người đã lấy vé mà quên trả tiền. Một ông quan người Pháp.

 

Chỗ này thì phải dừng lại một chút để nói về cái sự tính nhẩm của cha tôi. Nhân chia cộng trừ trong đầu rất nhanh và các phép tính rất tuần tự. Tôi cũng thừa hưởng cái kiểu tính nhẩm này. Khi cần thì vẫn dùng phép toán trên giấy, rồi cũng có khi dùng máy tính. Nhưng những gì vừa đến và cần tính tại chỗ thì nhẩm tính rất nhanh. 70 độ F chẳng hạn. Quy đổi rất nhanh thành độ C. Công thức là lấy độ F trừ đi 32, rồi nhân với 5, rồi chia cho 9.

 

 Nhà báo Hồ Sỹ Lãng, bút danh Việt Quỳnh (1918-1999)

 

Nghe qua thì có vẻ rắc rối, nhưng biết tính nhẩm thì…

Rất nhanh: 70 – 32 = 38.

38 x 5 thì đừng làm phép nhân thông thường cho mệt. Ta nhân lập tức với 10, bằng 380, rồi lấy một nửa của 380.

Rồi chia cho 9.

Vậy đáp số là 70 độ F xấp xỉ bằng 21 độ C.

 

Nói ra thì dài, thực ra những phép tính thủ công kiểu ấy lại chạy loang loáng rất nhanh trong đầu. Người làm phép tính bài bản chắc sẽ buồn cười, nhưng cách tính thủ công nhiều khi có lợi thế của nó.

 

Trở lại với phép tính mà cha tôi lục lại trong trí nhớ. Số tiền bị hao hụt đúng bằng bốn chiếc vé hạng nhất. Nhớ rồi. Đó là một ông Tây mua vé cho cả nhà đi nghỉ mát. Mải nói chuyện bằng tiếng Pháp về các điểm du lịch, cả hai đều quên chuyện thanh toán tiền.

 

Cha tôi lục trong sổ bán vé, tìm ra địa chỉ ông Tây. Rồi đến nhà ông ta, trình bày rõ sự việc. Ông Tây xuýt xoa xin lỗi rồi mang tiền ra thanh toán đầy đủ. Ông Tây gặp được người Việt có thể chuyện trò bằng tiếng Pháp thì thích lắm.

 

Một chén trà, vài câu chuyện, rồi cha tôi chào khách hàng, thong thả bước ra khỏi văn phòng của ông ta.

 

- Này ông – Ông Tây nói với theo – Ngày trước ông chưa ở Paris phải không?

 

Bỏ cha, mình có ở Pháp bao giờ đâu mà lão này hỏi vậy. Cha tôi nghĩ. Rồi hiểu ra ngay. Lão muốn nhắc rằng mình đã quên đóng cửa ra vào.

 

Cha tôi xin lỗi rồi đóng cửa lại như đã được nhắc nhở.

 

Sự nhắc nhở tế nhị.

 

Bây giờ ở trong nhà, ai ra vào mà quên đóng cửa, tôi đều hỏi:

 

- Ngày trước ông (bà) không ở Paris phải không?

 

Đã thành một chuyện để trêu nhau. Lúc ấy cũng là dịp để nhớ về cha tôi, một người vốn vui tính.

 

Ông Hồ Sỹ Lãng và con trai, Hồ Anh Thái, năm 1973

 

*

*   *

 

Khi tôi còn bé, một trong những điều mà cha tôi thất vọng là tôi quá nhút nhát. Con khác hẳn cha. Cha tôi dũng cảm thì tôi nhát. Cha tôi nhanh nhẹn thì tôi không nhanh. Cha tôi hiếu động thì tôi ru rú góc nhà, chỉ thích đọc sách và chơi một mình. Cha tôi thích chơi thể thao, đá bóng, đánh cờ tướng… cứ cái gì cha tôi thích thì tôi không thích. Ông không chỉ đá bóng mà thôi, lại còn cộng tác với Tổng cục Thể dục thể thao, làm trọng tài bóng đá hạng A. Là nhà báo bút danh Việt Quỳnh ở đài tiếng nói Việt Nam, nhưng ông còn lên đài tường thuật bóng đá trực tiếp. Đánh cờ thì tham gia Hội Cờ tướng Việt Nam, từng đấu mấy trận với nhà vô địch cờ Trung Quốc tên là Hồ Vinh Hoa, người giật giải vô địch năm mười sáu tuổi…

 

Nói thế để biết sự nhút nhát của tôi là trái ngược hoàn toàn với tính cách cha tôi.

 

Cũng là thời cha tôi làm hỏa xa. Có lần ông được điều sang một ga xép ở rừng Lào. Tôi nhớ ông kể là vùng Ba Na Phào. Gần ga có một căn nhà bỏ hoang. Vài anh em đồng nghiệp kể rằng đó là nhà mẹ Cò. Mẹ Cò là một người đàn bà đã thắt cổ tự tử trong nhà mình. Rồi không còn ai dám lai vãng đến căn nhà ấy nữa. Ban đêm người ta vẫn thấy một người đàn bà áo trắng đi lại ở đấy. Nhà có ma.

 

Ma nào. Ma trong đầu các cậu thì có. Cha tôi bảo.

 

Tuổi trẻ hiếu động. Tinh nghịch. Và có chút liều lĩnh, muốn chứng tỏ. Một đêm cha tôi vác cái ghế xếp đến nhà mẹ Cò. Giở cái ghế xếp ra cho ngay ngắn. Rồi nằm xuống ngủ một giấc đến sáng.

 

Sáng ra. Xách cái ghế xếp về. Mấy anh bạn ở cùng xúm lại hiếu kỳ hỏi, có thấy ma không.

 

Có. Ma ở trong đầu các cậu.

 

Trong nhà có một người đặc biệt thừa hưởng tính không sợ gì của cha tôi, là anh Tài. Không sợ gì và không sợ ai.

 

Tôi thì ra đường gặp ai cũng ngại. Chào người ta cũng không dám chào to, lúng búng trong mồm như không chào. Nhát như cáy. Thành ra mỗi khi đến rạp xem phim, hễ trên màn ảnh có nhân vật thiếu nhi, bao giờ cha tôi cũng bảo: Đấy, người ta bằng tuổi mình mà người ta đóng phim, người ta có sợ gì đâu.

 

Không ngờ câu nói ấy lặp lại nhiều lần đã gieo vào lòng tôi tính tự ái, rồi quyết tâm cải biến bản thân. Sau này tôi cũng hay dùng những câu khích như vậy với đám con cháu các anh chị. Mong là chúng tự ái và thay đổi. Nhưng chưa thấy đứa nào tự ái. Và cũng chẳng quyết tâm.

 

Cứ ngấm ngầm thôi. Thế mà vô tình quyết tâm lớn dần. Năm mười bảy tuổi, đang học lớp chín, hệ phổ thông mười năm, tôi thi vào khóa diễn viên điện ảnh. Mê điện ảnh, tất nhiên. Nhưng từ sâu trong lòng, chắc là có một quyết tâm chống lại nhược điểm sợ đám đông của mình. Tuy vậy sau đó trường không tuyển đủ sinh viên, lại trục trặc về việc giáo trình bậc đại học. Thế là khóa học hoãn lại mấy năm. Mấy người thi đỗ lần ấy về sau cũng bỏ đi học các ngành khác hết. Chẳng ai chờ được, vì cũng phải nhiều năm sau, khóa học mới khai giảng. Một trong những giám khảo cuộc thi ngày ấy là nghệ sĩ điện ảnh Tuệ Minh mà tôi rất mến mộ, sau này tôi có viết rằng chị là “phù thủy giọng nói”, ấy là sự biến hóa khôn lường trong giọng nói, riêng một trường phái đài từ của điện ảnh và sân khấu Việt Nam. Mãi đến năm 2010 tôi mới gặp lại chị. Một giai nhân tài hoa đã thành bà già bảy mươi hai tuổi, vịn từng bậc cầu thang xuống mở cổng cho tôi vào. Chị làm thơ, viết truyện, và tôi biên tập, đưa in, rồi mang báo và nhuận bút đến cho chị. Thời gian là kẻ thù của mỹ nhân. Tôi xem lại tấm ảnh nổi tiếng của chị chụp năm 1977, ngày trước thường treo ở các rạp chiếu bóng, bây giờ ở Trung tâm Chiếu phim Quốc gia vẫn còn treo. Rồi tôi gửi bằng thư điện tử cho chị tấm ảnh tôi năm 1977, cũng năm ấy, và kể chuyện tôi là thí sinh còn chị là cô giáo tuyển sinh. Sau ba mươi ba năm mới gặp lại.

 

Phải nói thêm rằng sau này nghĩ lại, tôi vẫn luôn lấy làm may, vì ngày ấy mình đã không theo nghề điện ảnh. Dù có làm nghề gì thì chắc cũng có lúc tôi sẽ đến với nghề viết mà thôi. Nhưng theo nghề điện ảnh ở ta thì sẽ phải lặn lội mãi trong những bài học nhập môn, một cái nghề đòi hỏi nghệ thuật phải kèm theo kỹ thuật máy móc, trong khi điện ảnh ta còn ở mức vỡ lòng.

 

Câu chuyện đã sang lĩnh vực điện ảnh, nhân nhớ về cha tôi và cái tính nhút nhát của tôi ngày trước đã làm ông thất vọng như thế nào.

 

*

*   *

 

Cha tôi có trí nhớ tốt và thuộc nhiều thơ. Thỉnh thoảng lại thấy ông đọc thơ Đường, thơ cổ điển của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Thơ kháng chiến cũng nhiều, nhờ ông mà tôi bắt đầu quen với những bài như Nhớ của Hồng Nguyên: “Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ / Gặp nhau thời chưa biết chữ / Quen nhau từ buổi: Một! Hai!” hoặc những bài ít người biết như Kể chuyện Vũ Lăng của Anh Thơ: “Người đàn bà ấy áo xanh / Chiều chiều gánh củi nghiêng mình xuống nương…” Nói thêm, cha tôi thích cái nghĩa Hán Việt của chữ Anh Thơ, thêm một lẽ là cha tôi thuộc thơ của Anh Thơ từ thời Bức tranh quê (1941), nên năm 1947 đặt tên cho con gái là Hồ Anh Thơ, lại không có chữ Thị đệm vào, thời ấy còn ít người tên là Anh Thơ, cho nên có người cứ tưởng đó là con trai.

 

Nhưng hầu như không thấy ông đọc thơ lãng mạn thơ tiền chiến. Không phải không thuộc, mà thời ấy ông là công chức, là cán bộ trong cơ quan, lại đang có chiến tranh, chắc cũng phải có ý thức chấp hành chủ trương chung. Trong khi ấy sổ tay của chị Thơ anh Tú tôi thì vẫn chép nhiều thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử… Chị Thơ khi ru con ngủ cũng bằng bài Lỡ bước sang ngang theo điệu hát ru. Chính quyền cho đó là loại thơ ủy mị, biểu hiện những tình cảm vụn vặt, không có tác dụng động viên cổ vũ nhân dân chiến đấu chống giặc cứu nước. Thì thế, có đọc có chép cũng chỉ là trong sổ tay cá nhân. Đài báo không bao giờ phổ biến những thứ thơ như vậy.

 

Chị Thành là phát thanh viên ở cơ quan cha tôi, sau này có lần kể lại: chị mê thơ lãng mạn, hay đọc giấu diếm những tập thơ cũ xuất bản từ thời Pháp. Kín đáo đến mấy thì cũng có lúc sơ hở và bị lộ. Một lần khoảng năm 1970, ông giám đốc yêu cầu cha tôi thay mặt lãnh đạo cơ quan “giáo dục” chị Thành.

 

Việc phải làm. Cha tôi bảo chị Thành ở lại sau giờ làm việc và hỏi: Cháu thích loại thơ nào? Chị Thành kể tên một loạt nhà thơ tiền chiến, trước năm 1945 rồi buồn rầu kể vừa rồi cháu bị bác giám đốc tịch thu mất tập Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. 

 

Cha tôi bảo, cháu đọc thơ thì không sai, nhưng cái sai của cháu là để cho mọi người biết những gì cháu thích. Cháu thích bài Lỡ bước sang ngang phải không, thuộc hết chưa, chưa à, vậy cháu có cần thì nghe chú đọc mà chép lại.

 

Cha tôi đọc một mạch bài thơ dài, 110 câu, bắt đầu từ: Em ơi em ở lại nhà / Vườn dâu em đốn mẹ già em thương / Mẹ già một nắng hai sương / Chị đi một bước trăm đường xót xa cho đến Em về thương lấy mẹ già / Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công / Chị giờ sống cũng bằng không / Coi như chị đã sang sông đắm đò.

 

Xong. Cha tôi bảo, chú chỉ thuộc khoảng một nghìn bài như thế thôi. Cháu còn thích bài nào nữa? Chị Thành kể tên những nhà thơ lãng mạn chị thích. Thế là cha tôi đọc cho chị nghe, mỗi nhà thơ một vài bài làm ví dụ.

 

Buổi giáo dục nhân viên biến thành chương trình Tiếng thơ như của đài Tiếng nói Việt Nam, chỉ khác là toàn thơ không được phổ biến lúc ấy.

 

Sau này chị Thành nói với anh Tài tôi: Bố chị cũng không dạy chị được nhiều như thế.

 

*

*   *

 

Cha tôi giỏi nhớ và mê văn chương. Ông là người Tây học, thành thục tiếng Pháp, làm ở Ban Đối ngoại của đài tiếng nói Việt Nam. Nhưng ông cũng biết cả tiếng Trung. Khi tôi còn bé, thường nghe ông cãi nhau với cái đài. Thỉnh thoảng ông lại kêu lên trước những câu sai ngữ pháp, những câu cụt câu què hoặc những câu Tây An Nam người ta đang đọc trên đài. Phản ứng bản năng của một nhà biên tập. Toàn là cộng tác viên của ông và đồng nghiệp của ông đấy chứ đâu. Ông thường bảo: Người Việt viết văn viết báo ít nhất phải biết từ Hán Việt để không viết thừa, và phải biết một thứ tiếng phương Tây để đối chiếu văn phạm. Không viết thừa, ví dụ: sông Hồng Hà, sông Cửu Long Giang, cây cổ thụ, ăn gạo mễ, mũ miện, ngày chủ nhật… Biết một ngôn ngữ như tiếng Anh tiếng Pháp thì có thể so sánh ngữ pháp.

 

 

Cha tôi mê thơ. Một lần nhắc đến Huế, ông đọc ngay bài thơ có khung cảnh Huế, rồi bảo tôi giở sổ ra nghe ông đọc tại chỗ mà chép lại: Thuở ấy miền Hương Ngự / Dịu dàng như một lá thư xanh / Một dòng sông xinh / Đôi bờ thông nhỏ / Có con đường ngát gió / Về Nam Giao bóng nắng chênh chênh / Em tôi áo biếc hiền lành / Lòng vui bước rộn nhanh nhanh đường dài… Sau này tôi viết văn, có cuốn tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng được nhà văn Huy Phương thích. Lúc ấy chú Huy Phương mới nhắn tôi đến gặp, rồi tôi kể với chú rằng cha tôi đọc cho nghe từ bé bài thơ Em tôi. Chú Huy Phương cười có vẻ rất thú vị: Ồ, bài ấy của một thời rồi, chú viết cho cô em gái là Thanh Hương đấy mà. Cô Thanh Hương nhà văn, vợ nhà văn Vũ Tú Nam, cũng phải về sau này tôi mới gặp. Nhân vật cô em gái “em tôi áo biếc hiền lành” khi tôi gặp đã là một bà ngoài bảy chục tuổi.

 

Thích thơ, nhưng cha tôi không thích kiểu ngâm thơ trên đài. Ngâm như là hát, phải gọi là hát thơ mới đúng, ông bảo, ngâm gì mà lên bổng xuống trầm ngân nga luyến láy như hát điệu sa mạc bồng mạc.

 

Ông nghe và phản ứng theo kiểu biên tập với cả bài hát trên đài. Thời ấy người ta có những bài mà đang hát, ca sĩ dừng lại đối đáp dăm ba câu theo kiểu nhạc rap thời nay, ví như bài Thắm hoa núi rừng: Ơ rừng núi ơi / Có cô bạn tôi / giữa năm mười tám / lý do chi mà dám / bước chân xông pha lên đường… Rồi nói: Đủ mười nết tốt đấy bạn ạ, đây nhé: hay làm là một, kỷ luật là hai, dẻo dai là ba, quản ca là bốn, khiêm tốn là năm, yên tâm là sáu, gương mẫu là bảy, thúc đẩy chị em là tám, dũng cảm là chín, sáng kiến là mười, thật đúng là người, thanh niên tiền tiến.

 

Cha tôi cười: Văn nghệ lửa trại, văn nghệ công nông binh, thế thì độc tấu đi cho xong, hát làm gì.

 

Ông lại cũng cười câu: Em hỏi anh có còn đường nào là đường đẹp nhất ớ / Anh nói rằng chỉ có con đường thống nhất hôm nay ơ…

 

Một bài khác có câu đối đáp với một cô giáo miền cao: Cô tìm ai, tìm người yêu đang đứng đợi bên bờ suối chắc? Không không không, cô đi tìm dạy đàn em nhỏ chưa biết chữ trên đỉnh núi cao. Cha tôi lại cười: Chối một câu là đủ rồi, chối đến ba chữ không làm gì, như vậy gọi là lém mồm.

 

Ông cũng hay chế giễu những cái bất thường ở đồng nghiệp. Một cô phát thanh viên lúc ngồi ở văn phòng, đến hắt hơi cũng điệu, mỗi cái hắt xì hơi đều kèm theo một tiếng: hắt xì hơơơi… hơơơi… hơơơi… Cô này gia đình ngày trước thuộc diện tư sản giàu có, điệu đã thành quen, cha tôi bình luận. Một cô khác cùng cơ quan, ở quê lên tỉnh, hình như tên là Trần Thị Len, vào làm việc đổi tên thành Hoài Len, chẳng có ý nghĩa gì. Một cô nữa Vũ Thị Tin, đổi thành Bích Tin, nghe cũng râu nọ cằm kia, không có nghĩa lý gì.

 

Không nghĩa lý gì, nhưng chúng trở thành những chuyện thỉnh thoảng được kể lại trong nhà để cười với nhau. 

 

*

*   *

 

Đặt tên cho mẹ. Đó là việc cha tôi đặt tên cho bà nội tôi. Con đặt tên cho mẹ.

 

Ngày trước người con gái chưa lấy chồng thì được gọi là con gái của ông ấy ông nọ, không mấy khi được gọi trực tiếp bằng tên mình. Lấy chồng rồi thì gọi theo tên chồng, ví dụ: vợ của ông A, hoặc là bác A gái. Lâu dần người đàn bà không dùng đến tên mình thì quên. Mấy chục năm không gọi đến tên thì quên tên luôn.

 

Bà nội tôi cũng vậy. Sau cách mạng tháng 8-1945, nước nhà độc lập, bắt đầu một cuộc đời mới. Mọi người đều làm giấy tờ đăng ký với chính quyền. Người chưa có giấy khai sinh thì làm giấy khai sinh. Cha tôi đi công tác xa, về nhà làm giấy tờ cho cả nhà. Hỏi đến tên mẹ thì mẹ không nhớ. Không ai nhớ. Mọi người chỉ gọi là bà Chắt Lãng. Lãng là tên cha tôi, Hồ Sỹ Lãng. Lấy tên con trai trưởng làm thành tên mẹ là cách gọi thời ấy.

 

Thế là cha tôi đặt tên cho bà nội. Bà họ Hoàng. Cha đặt tên bà là Hoàng Thị Lan.

 

Cũng như vậy, cha tôi đặt tên cho người chị cả là Hồ Thị Bằng. Bà bác tôi, mọi người chỉ gọi là bà Võ, vì lấy chồng là ông Dương Ngọc Võ. Bây giờ nhờ ông em đặt tên, thế là bà Võ có tên, bà Hồ Thị Bằng. Bằng theo nghĩa là bình an.

 

Trong nhà có hai anh em trai. Cha tôi là Hồ Sỹ Lãng. Chú tôi là Hồ Sỹ Ba. Đều là ông nội đặt, theo nghĩa Hán Việt. Lãng và Ba đều có nghĩa là làn sóng. Các cô tôi đều là học sinh của chế độ mới, đều nhớ tên mình. Những cái tên ông nội đặt theo vị thuốc: Sâm, Nhung, Cam (Thảo), Bưởi.

 

Cha tôi hay đặt tên cho con cháu trong nhà. Các con trai đã là Hồ Anh Tuấn, Hồ Anh Tú, Hồ Anh Tài. Năm 1956, chú Ba có con trai duy nhất, nhờ cha tôi đặt tên. Cha tôi đặt cho cháu là Hồ Anh Thắng. Lập tức cô Thảo đến khiếu nại: Anh quên rằng tên em rể anh là Thắng hay sao? Cha tôi bảo vẫn nhớ, chú ấy là Lê Thắng, còn thằng cu này là Hồ Anh Thắng, khác nhau chứ. Cô Thảo vẫn phụng phịu, không chịu. Cuối cùng cha tôi phải đổi tên cho cháu thành Hồ Anh Phong.

 

Sau này, năm 1996 Phong có con trai đầu, bèn đặt ngay tên cho con là Hồ Anh Thắng. Phải lấy lại cái tên “để phục thù”, Phong đùa như vậy. Cô Thảo và chú Thắng cũng phải chịu.

 

Cũng năm 1996, tôi đặt tên cho con trai là Hồ Tuấn Khanh. Bà Võ bảo cha tôi: Chắc là em quên cụ nội mình tên là Khanh? Cha tôi bảo: Cụ nội là Hồ Sỹ Khanh, còn cháu nó là Hồ Tuấn Khanh, em không quên đâu.

 

Bà Võ là người đàn bà theo đúng kiểu truyền thống: chỉ biết có chồng con, chỉ biết có gia đình. Tuân phục người đàn ông trong gia đình. Chồng nóng tính, đánh mắng con thì bà chỉ biết khóc, không dám phản ứng. Giữa các anh chị em thì em trai vẫn là nhất. Vừa thương vừa có gì đó như là kính trọng ông em. Thương nhưng bà cũng đông con, không giúp em được nhiều. Vì thế lại càng thương. Mỗi khi gặp ông em, bà đem cho lỉnh kỉnh tí mắm tí cá tí thịt, có khi dúi cho mấy đồng.

 

Năm ấy, cha mẹ tôi quyết định chuyển vào Sài Gòn ở với mấy người con. Đã sắp sửa bán nhà, thì bà Võ đến. Bà khóc như em sắp chết: Em ơi, em đi vào trong đó là chị em mình chết mà không gặp được nhau đâu. Hai chị em đều khóc. Thế rồi cha mẹ tôi ở lại, không đi nữa.

 

Hai người đều tuổi trên dưới tám mươi mà xưng hô vẫn chị chị em em. Rất hiếm khi bà gọi cậu xưng chị. Khi cha tôi mất ở tuổi tám mươi hai, bà Võ đã tám sáu. Bà khóc gọi: Em ơi, sao em bỏ chị mà đi. Bố mẹ ơi, sao bố mẹ lại mang em đi thế này.

 

*

*   *

 

Thời bao cấp có thành ngữ: mất sổ gạo. Người ta có thể chọc nhau: Làm sao mà trông như mất sổ gạo thế? Thất thần, tái mét, ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Thì mất sổ gạo tức là mất nguồn sống của cả một gia đình. Tiêu chuẩn mỗi người dân hàng tháng được mua khoảng mười ba cân gạo, có khi phải đi mua vài ba lần trong tháng chứ không được mua một lần. Mất sổ gạo thì phải khai báo làm lại sổ nhưng mất thời gian nhiêu khê vô cùng, trong thời gian chờ được cấp lại sổ thì coi như không có gạo. Chợ cũng có bán gạo, không nhiều, nhưng công chức và thường dân cố gắng lắm cũng chỉ vừa đủ chi tiêu trong tháng, tiền đâu mà mua.

 

Mất sổ gạo. Không có thành ngữ mất xe đạp. Không phải ai cũng có xe đạp. Xe đạp là cả một tài sản lớn trong nhà, mất xe đạp là tai họa lớn, kinh khủng hơn nhiều.

 

Những năm chiến tranh, cha tôi được cơ quan cho tiêu chuẩn mua một chiếc xe đạp Thống Nhất, xe nội địa, không được như xe Phượng Hoàng của Trung Quốc hay các loại xe đạp của Đông Âu. Nhưng Thống Nhất cũng là tốt lắm rồi. Sau này cha tôi về hưu, xe phải bán đi để lấy tiền giải quyết nhiều việc cho gia đình, chẳng thể giữ cái xe cho tôi đi học. May, thời khốn khó ấy, cha tôi không bị mất xe đạp, cũng không bị mất sổ gạo.

 

Nhưng sau này thì có một lần bị mất xe. Đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ hai mươi, đã xong thời bao cấp, cha tôi đã nhẹ gánh gia đình không còn phải vay mượn nợ nần như trước. Cha tôi hay đi dọc theo phố ra đến chợ, ngồi đánh cờ trong quán cà phê quán nước với dân hàng phố. Đánh chơi chứ không đánh ăn tiền, thời bao cấp khó khăn thế mà ông già cao cờ cũng không bao giờ chơi cờ ăn tiền. Dân trong phố khoái ông già vừa đánh cờ vừa chuyện trò rất vui. Ông là nhà báo lại có thời làm công tác công đoàn của cơ quan nên rất nhiều kỷ niệm giải quyết mắc mớ gỡ rối cho đồng nghiệp. Chuyện trò trong những cuộc cờ thế nào cũng có lúc ông già bộc lộ niềm tự hào của người từng làm trọng tài phân định thiệt hơn hay dở cho đồng nghiệp bạn bè người thân. Người ta bàn tán về trận bóng đá đêm hôm trước – chuyện này phải hỏi tôi – chẳng là ngày trước ông từng làm trọng tài bóng đá hạng A miền Bắc. Người ta kể chuyện nhà nọ nhà kia lục đục – chuyện này phải để tôi.

 

Hôm ấy ông già vừa dựng xe đạp ở trước cửa quán thì một tay khoảng ngoài ba mươi chạy đến: Con chào bố, bố có nhận ra con không? Không để cho ông già kịp nói, anh ta tiếp: Con chơi cờ với bố vài lần rồi còn gì, bố già cao cờ quá, chúng con đỡ không nổi. Rồi anh ta kể vợ chồng anh ta đang tranh cãi chuyện bán cái nhà, anh ta đòi bán, vợ anh ta bảo không, chỉ có thế mà giận nhau, bây giờ nhờ ông già vào phân tích cho người vợ hiểu ra. Chỉ có bố nói thì vợ con nó mới nghe, anh ta bảo.

 

Thế là anh ta dẫn ông già xăm xăm đi vào trong ngõ, đến trước một căn nhà ba tầng kín cổng cao tường. Vợ con nó ở trong nhà đấy. Anh ta nói rồi bấm chuông. Trong nhà không động tĩnh. Nó giận con nó không chịu ra, bố cứ bấm chuông và chờ một lát nữa. Anh ta nói rồi lảng đi mất.

 

Ông già thật thà tin, bấm chuông và đứng chờ thêm một lúc nữa. Chẳng có ai ra. Cuối cùng ông đành rời khỏi ngõ, quay trở lại chỗ dựng cái xe. Xe đã biến mất. Đứa ăn cắp chắc từng lảng vảng quanh chỗ ông già ngồi đánh cờ, hóng chuyện và biết chuyện, nó tận dụng đúng khả năng hòa giải của ông già.

 

Cha tôi hớt hải chạy về nói với con dâu là Phương: Ông đánh mất xe của con rồi. Thấy ông già tái nhợt run run kể chuyện lại còn định ra đồn báo công an, chị Phương bảo: Thôi, mất rồi thì thôi, không sao cả, ông cũng chẳng cần đi báo công an đâu. Đúng là chẳng cần phải báo, ích gì. Mà cha tôi cũng quên là đã qua thời khốn khổ, cái xe đạp không còn là tài sản ghê gớm nữa.

 

  Lâu lâu sau, Minh là em chị Phương từ Sài Gòn ra chơi, đã biết chuyện ông già mất xe đạp, Minh chào cha tôi: Con chào bố, bố có nhận ra con không? Đã quên đó là câu chào của thằng ăn cắp xe đạp, cha tôi bảo: Sao lại không nhận ra, dì là dì Minh chứ còn ai nữa.

 

Thỉnh thoảng nổi cơn thích trêu chọc, tôi lại chào cha tôi: Con chào bố, bố có nhận ra con không? Rồi My và tôi, hai chú cháu cứ thế mà nháy nhau cười.

 

*

*   *

 

Người Việt bảo thế. Giàu con út, khó con út. Cha mẹ giàu thì con út được nhờ, nghèo thì con út phải cùng chịu. Thời thanh niên, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn cho rằng mình phải chịu cảnh nghèo của cha mẹ. Thực ra nhà nghèo thì anh chị em ai cũng đều phải chịu, nhưng mình con út, phải ở với cha mẹ lâu hơn cả.

 

Trong nhà có bảy anh chị em: Hồ Quỳnh Hương, Hồ Anh Tuấn, Hồ Kim Thoa, Hồ Anh Thơ, Hồ Anh Tú, Hồ Anh Tài và tôi. Anh chị nào học xong, có việc làm là phải nuôi đỡ cho cha mẹ một đứa em. Chỉ trừ chị Hương đã có chồng có con, có gánh nặng rồi cho nên không phải nuôi các em. Anh Tuấn tốt nghiệp đại học sư phạm, được phân công ra đảo Cát Hải trong nhóm giáo viên ra lập trường cấp ba đầu tiên cho đảo. Một thời gian thì mang theo anh Tú ra đấy học cấp ba, học xong thì lo thủ tục cho anh Tú đi du học ở Romania. Xong anh Tú, lại mang anh Tài ra Cát Hải. Trước đó chị Thoa được điều đi dạy học ở ngoại thành. Cô giáo trẻ lúc thì mang anh Tú lúc thì mang anh Tài theo, hai anh khi ấy đều mới học cấp một cấp hai.

 

Tôi phải ở lại nhà. Cha mẹ tôi mới ngoài tuổi bốn mươi, tức là quãng thời gian sau khi sinh tôi, đều ốm nặng. Cha tôi bị bệnh dạ dày, bệnh đường ruột, nôn ra mật xanh mật vàng cả năm trời, được giáo sư Đặng Văn Chung chữa cho, mãi mấy chục năm sau cha tôi vẫn còn nhắc ơn nghĩa của người thầy thuốc giỏi. Nhưng ốm đau thiếu thốn làm cho cha tôi đổi tính. Ông hay quát mắng con cái, thỉnh thoảng thì cho tôi một trận đòn. Có lần thấy ông đánh mắng tôi, một bà cô cứ nhìn ông mà chép miệng: Trời ơi, sao bây giờ lại dữ tính thế? Cô bảo ngày trước ông không bao giờ đánh mắng các em. Có lần một cô nghịch hư thế nào đấy, bà nội bảo cha tôi đánh cho cô một trận. Cái roi được dúi vào tay cha tôi, nhưng cha tôi chỉ cười, không đánh, không bao giờ đánh em. Chú Ba còn nhỏ thấy thế chạy đến giật lấy cái roi đánh hộ.

 

Khó tính với con cái, nhưng về sau với thế hệ các cháu thì lại trở nên dễ dãi, chiều chuộng quá mức, mọi người lại sợ ông làm hư cháu.

 

Một con người như thế mà khi tôi còn bé thỉnh thoảng lại lên cơn dữ tính, quát mắng và đánh đòn. Anh Tài bỏ chạy ra đường, đi đâu đấy vài tiếng đồng hồ rồi quay về, chuyện đã nguôi, không bị đánh nữa. Tôi cũng muốn bắt chước anh, nhưng không dám. Chạy đi thì lúc quay về mới càng chết. Thế là ở nhà chịu đòn. So bì mới thấy thật là bất công. Cha tôi rất nghiêm. Trong nhà không ai được lê dép quèn quẹt, trước khi lên giường thì phải quay mũi dép ra ngoài để lúc ra khỏi giường xỏ chân vào dép theo hướng thuận được ngay. Trẻ con đi đứng trong nhà không được đút tay túi quần, như vậy là ngông nghênh. Vào mâm cơm, trẻ con không được gắp trước người lớn, không phải món nào mình thích thì cứ món ấy mà chén tì tì. Chuyện trò với ai phải để người ta nói cho hết ý thì mới được trình bày, không được cắt ngang… Có lần tôi đã tương đối lớn, thuận miệng nói với một đứa bạn: “Ở đời, không phải cứ nghe nó nói thế mà tin…” Bị cha tôi chấn chỉnh ngay cái câu “ở đời”, tí tuổi đầu đã biết gì ở đời, cha tôi ghét cái giọng ngông nghênh khinh bạc.

 

Tất cả lời dạy, tôi đều thực hiện đúng, thế mà càng làm đúng càng bị đánh mắng. Trong khi anh Tài nhiều cái chỉ làm chiếu lệ cho xong, nhiều cái còn làm trái, thì lại hiếm khi bị nghiêm trị.

 

Cho nên cuối cấp hai, anh Tài ra đảo Cát Hải với anh Tuấn để chuyển lên học cấp ba, tôi vẫn cho là anh may mắn. Không phải ở với cha tôi. Có nhiều lúc tôi đã nghĩ đến việc bỏ nhà ra đi. Nhưng vốn nhát, đi đâu, đi với ai, học hành thế nào hay là lang thang…? Chỉ mới nghĩ thế là đã sợ, không đi đâu cho thoát cha mẹ được. Đúng hơn là tôi không thể rời mẹ một bước.

 

May. Tôi đọc được cuốn Không gia đình của nhà văn Pháp Hector Malot, trong ấy chú bé Rémi phải lang thang theo một gánh xiếc rong, chú luôn ao ước có một gia đình, chú thầm nghĩ đại loại: cái bọn trẻ có gia đình êm ấm đàng hoàng thường mơ ước được phá cũi sổ lồng bỏ đi đâu đấy, còn tôi thì chỉ mong có được một gia đình để neo lại trong những ngày rét mướt…

 

Điều này an ủi tôi được phần nào.

 

Ở một góc độ nào đó thì phải nói là tôi được chiều. Đòi mua một cái cặp sách mới – cái cặp cũ làm tôi mặc cảm với chúng bạn. Đòi nhiều lần quá khiến cha tôi tức lên, đánh cho một trận tơi bời. Đánh xong thì ân hận, thế là phải đi vay tiền đâu đấy mua cặp cho con, lại còn dẫn đi ăn phở. Phở ngày ấy có khi phải vài ba tháng mới được ăn một lần, nhưng bị đánh xong thì được một bát phở đột xuất. Có lần tôi đòi mua một tuyển tập bài hát chống Mỹ, sách khổ to, dày cộp, giá 2,4 đồng. Giá tiền ấy gấp mười lần một quyển truyện dày 150 trang. Tiền đâu ra mà cho mua sách đắt như thế. Vậy là tôi giận dỗi, kèo nhèo nhắc nhở ngày này sang ngày khác. Cha tôi lại điên lên, đánh cho một trận. Đánh xong thì nằm thở dài. Vài tiếng sau trở dậy, gọi tôi, dẫn đi cho ăn phở. Rồi vay tiền đâu đấy đưa cho tôi hai đồng tư, đi gặp cô Và mà mua sách. Cô Và thấy tôi mang tiền đến hỏi mua cuốn sách ấy thì giật mình, trời ơi, đắt tiền lắm đấy.

 

Ngay cả những nhà khá giả cũng không ai chiều con mà cho mua cuốn sách đắt như vậy.

 

Hơn mười tuổi, tôi vẫn còn yếu ớt và nhút nhát. Trẻ con hàng xóm làm đủ mọi việc giúp gia đình thì tôi vẫn được miễn làm nhiều thứ. Đi học về rời cái cặp sách ra là vồ lấy sách đọc. Nước sinh hoạt phải ra máy nước công cộng, cách nhà khoảng hai trăm mét để gánh về, nhưng tôi không phải gánh. Em nó yếu. Phải thuê gánh nước. Một bà gần bằng tuổi mẹ tôi, cũng dong dỏng gầy gầy như mẹ tôi, nhà ở góc phố, nhưng ăn trầu răng đen và thỉnh thoảng mặc áo cánh nâu. Mỗi ngày bà gánh vài ba gánh nước đổ vào cái thùng phuy nhà tôi. Hình như là ba hào cho ba gánh nước. Bà gánh nước thuê này luôn cười rất tươi, hàm răng hạt na đen bóng. Hơn bốn chục năm rồi mà tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ đến bà.

 

Hiếm có nhà phải thuê người gánh nước. Trong mắt hàng xóm thì tôi được nuông chiều quá. Hơn mười tuổi rồi mà không phải gánh nước. Cha mẹ tôi coi đó là chuyện đương nhiên, thằng bé yếu. Nhưng tôi thì mỗi khi bà gánh nước đến, tôi lại tránh vào nhà. Tôi ngượng. Rồi một hôm tôi đòi mẹ cho tôi tự đi gánh nước. Hai cái xô nhỏ, xô bằng ba phần tư cái thùng nước bình thường. Rụt đầu rụt cổ lại mà gánh. Hai chân vừa đi vừa choãi rộng sang hai bên để giữ thăng bằng mà gánh. Mười hai tuổi tôi bắt đầu gánh nước, không phải thuê nữa. Tự đi gánh nước cho gia đình khiến tôi hết ngượng với bạn bè, không xấu hổ rằng mình yếu ớt.

 

Kinh nghiệm bản thân khiến tôi nhận ra rằng trong một nhà đứa con nào xung khắc với cha mẹ hầu như là đứa sẽ xót nhất khi cha mẹ không còn nữa. Cha tôi mất năm 1999 ở tuổi tám mươi hai, sau một chuyến đi thăm mấy người con ở Sài Gòn. Về đến Hà Nội vẫn rất khỏe mạnh nhanh nhẹn. Rồi bất chợt bị viêm phổi cấp, không thở được, vào nằm ở khoa A9 bệnh viện Bạch Mai được hai mươi lăm ngày thì mất. Mẹ tôi mất trước đó sáu năm, 1993, bảy mươi sáu tuổi, lúc tôi đang ở Ấn Độ. Không tận mắt nhìn thấy mẹ mất nên đến bây giờ tôi vẫn cứ nghĩ như mẹ đi đâu đấy mà thôi. Còn cha tôi, hai mươi lăm ngày cha nằm viện, tôi thường vào trực mấy tiếng ban đêm. May mà có nhiều con cháu, không chỉ các anh chị em đầy đủ mà cả mấy người cháu, gọi cha tôi bằng bác, cũng thay nhau vào trông. Những ngày cuối cùng tôi có cảm giác nếu kéo dài thêm thì chính mình cũng không chịu nổi.

 

Cho đến mười mấy năm sau, hàng ngày đi về qua bệnh viện Bạch Mai, tôi vẫn thấy không sao bình thường được. Không bao giờ quên là cha tôi đã mất ở trong ấy.

 

Một vài người bạn của tôi cực kỳ xung với cha mẹ. Người xung với mẹ, người xung với cha. Chuyện bi hài về các bậc phụ huynh đem ra kể với nhau để san sẻ. Chúng tôi biến nó thành chuyện cười để giảm bớt cái xót xa mâu thuẫn với phụ huynh. Với họ, tôi đều đem kinh nghiệm của mình ra để nói. Bây giờ thì cắn rứt nhau thế, chứ khi mẹ hoặc cha mà mất đi thì tiếc lắm. Có thể nói là tiếc gấp bao nhiêu lần anh chị em khác trong nhà. Cái đứa con xung khắc có thể chính là đứa giống cha mẹ nhất, giống nhau nên nghiệt ngã với nhau hơn. Và lòng thương tiếc ở họ còn phải đi kèm theo ân hận. Khi còn bé, tôi làm việc gì cũng bị cha hạch hỏi quát mắng. Khi cha về già, ông làm việc gì cũng bị tôi căn vặn. Những điều cha dạy tôi về đi đứng tác phong cách xử thế, thì khi về già cha lại phạm đúng những thứ ấy. Hình như khi già, người ta tự thả lỏng, không thể cứng rắn với chính mình như quy phạm suốt một đời phải theo nữa. Lúc ấy thì đứa đã ngấm mọi quy định luôn phải tuân thủ ngày trước mới quay lại làm người giám sát. Một cái vòng tròn đổi chỗ cho nhau. Cha tôi khi già đỡ bị bệnh tật, không một bệnh hiểm nghèo nào, không tim mạch, không mỡ máu, không tiểu đường. Không ốm đau nên tính tình ôn hòa hơn. Với các cháu thì dễ dãi chiều chuộng. Tính tình cực đối ngược với tôi. Cha tôi với ai cũng ngồi nói chuyện được, ai cũng có chuyện để nói, không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác, địa vị. Quanh vùng ngã tư Vọng có thể ngồi đánh cờ với một nhóm bên đường, trong quán. Sau khi cha mất được nửa năm mà có vợ chồng chủ quán nọ cứ băn khoăn không biết ông đi đâu, rồi một hôm tìm đến nhà hỏi thăm sao lâu nay không thấy ông ghé qua.

 

Anh chị em của cha tôi đều thương cha nhất nhà. Ai cũng xót cho cha tôi suốt đời phải phục dịch một bà vợ ốm đau. Suốt đêm không được ngủ yên, thỉnh thoảng mẹ tôi bị một cơn ho tỉnh dậy, cần nước nóng là cha phải dậy lấy nước nóng cho mẹ uống. Có khi mẹ thở không được thì cha phải ngồi suốt đêm cho mẹ tựa. Mấy người gọi cha tôi bằng cậu còn nhắc mãi những chuyện này, và kể với bạn bè. Người bạn ấy kể lại với tôi. Lúc ấy tôi mới biết là bên nội nhà mình xót cha mình đến thế nào. “Chưa thấy ai tử tế được với vợ như ông cậu tôi”, một cô nói về cha tôi như vậy. “Đời tôi chỉ thấy có hai người là nhất”, một bà chị họ của tôi bảo. Một người trong số đó là vị lãnh tụ mà chị yêu quý.

 

Rút từ tập Tự kể, NXB Trẻ 2016

Hồ Anh Thái